TỔNG THUẬT: HỘI NGHỊ "PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐỒNG BỘ, HIỆU QUẢ, HIỆN ĐẠI VÀ HỘI NHẬP"

26/09/2022
143Lượt xem

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chủ trì Hội nghị "Phát triển thị trường khoa học và công nghệ đồng bộ, hiệu quả, hiện đại và hội nhập". Ảnh VGP/Nhật Bắc

Cùng dự hội nghị tại điểm cầu Văn phòng Chính phủ có Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Huỳnh Thành Đạt, Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Trần Văn Sơn, Bộ trưởng Bộ NNPTNT Lê Minh Hoan; Giám đốc ĐHQG Hà Nội Lê Quân; lãnh đạo các bộ ngành; các tổ chức quốc tế, các viện nghiên cứu; các chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài nước,…

Tại điểm cầu địa phương có lãnh đạo UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, lãnh đạo các sở ngành liên quan.

Thủ tướng Phạm Minh Chính: Phát triển mạnh mẽ thị trường KHCN là một trong các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo để tạo bứt phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả, tăng sức cạnh tranh trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Ảnh VGP/Nhật Bắc

Phát biểu khai mạc, Thủ tướng Phạm Minh Chính cho biết Việt Nam đang xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (tôn trọng các quy luật của thị trường nhưng có sự can thiệp và điều tiết của nhà nước khi cần thiết).

Trong bối cảnh hiện nay, Chính phủ tập trung vào các trọng tâm chỉ đạo, điều hành gồm "4 ổn định, 3 tăng cường, 2 đẩy mạnh, 1 tiết giảm, và 1 kiên quyết không". Trong đó, 4 ổn định là: ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn; ổn định các loại thị trường, giá cả hàng hóa, dịch vụ; ổn định và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân; ổn định chính trị, bảo đảm trật tự an toàn xã hội.

Với phương châm đó, 3 Hội nghị về phát triển các loại thị trường đã được tổ chức thành công trong những tháng gần đây, gồm: thị trường bất động sản, thị trường tài chính và thị trường lao động.

Biến khoa học công nghệ thành lực lượng sản xuất chủ lực của xã hội

Với chủ đề: "Phát triển thị trường khoa học và công nghệ đồng bộ, hiệu quả, hiện đại và hội nhập", Hội nghị ngày hôm nay có ý nghĩa rất quan trọng để đánh giá tình hình, nhận diện đúng những hạn chế, tồn tại, khó khăn, thách thức, từ đó xác định phương hướng, đề ra nhiệm vụ, giải pháp để tổ chức, vận hành tốt hơn thị trường khoa học công nghệ (KHCN).

Thông qua đó để thị trường này thực sự trở thành con đường ngắn nhất, hiệu quả nhất biến KHCN thành lực lượng sản xuất chủ lực của xã hội, giúp các doanh nghiệp tạo ra nhiều hàng hoá, dịch vụ mới có hàm lượng khoa học cao, tạo sức cạnh tranh vượt trội của nền kinh tế.

Thị trường KHCN ở nước ta là một trong những yếu tố quan trọng trong thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN. Những năm qua, Đảng, Nhà nước luôn quan tâm đầu tư, đã ban hành, triển khai thực hiện nhiều chủ trương, chính sách có liên quan, thị trường KHCN bước đầu được hình thành, phát triển và đã đạt được những kết quả nhất định.

Tuy nhiên, so với nhu cầu phát triển KTXH và so với một số thị trường khác, thị trường KHCN phát triển chậm, còn nhiều vướng mắc, chưa gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo, nghiên cứu, ứng dụng với nhu cầu sản xuất, kinh doanh…

Chiến lược phát triển KTXH 10 năm 2021-2030 đã xác định: "Phát triển mạnh thị trường khoa học, công nghệ gắn với xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về khoa học, công nghệ. Kết nối có hiệu quả các sàn giao dịch công nghệ quốc gia với các trung tâm ứng dụng và chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ ở các địa phương. Phát triển mạnh mạng lưới các tổ chức dịch vụ trung gian môi giới, đánh giá chuyển giao công nghệ…".

Do vậy, phát triển mạnh mẽ thị trường KHCN là một trong các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo để tạo bứt phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả, tăng sức cạnh tranh trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. 

TỔNG THUẬT: Thủ tướng chủ trì Hội nghị

Thủ tướng đề nghị các đại biểu đề xuất các giải pháp đột phá để thị trường KHCN phát triển đồng bộ, hiệu quả, hiện đại và hội nhập trong thời gian tới. Ảnh VGP/Nhật Bắc

Gỡ vướng thể chế để thúc đẩy thị trường khoa học công nghệ phát triển

Với tinh thần đó, Thủ tướng đề nghị các đại biểu phát biểu ý kiến tập trung vào một số nội dung cơ bản như sau:

Thứ nhất, phân tích, đánh giá sự vận hành của thị trường KHCN ở nước ta hiện nay đã tương xứng với vai trò, vị trí trong thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN chưa?
Thứ hai, làm rõ những điểm mạnh, điểm yếu của các chủ thể chính của thị trường KHCN; đánh giá sự tương tác, hợp tác, phối hợp giữa các chủ thể này với nhau ra sao?

- Tại sao kết quả nghiên cứu, tài sản trí tuệ của các viện, trường khá dồi dào, nhưng hàng hóa KHCN vẫn còn rất hạn chế?

- Tại sao nhu cầu tiếp thu, hấp thụ, làm chủ công nghệ mới luôn hiện hữu, song không phải doanh nghiệp nào cũng tích cực, hào hứng đầu tư mua sắm hàng hoá KHCN?

- Các tổ chức trung gian, môi giới đã làm tốt vai trò kết nối, thúc đẩy giao dịch, lưu thông hàng hoá KHCN hay chưa? Hạ tầng quốc gia của thị trường KHCN hiện nay ra sao, hội nhập với thị trường khu vực và quốc tế thế nào?

Thứ ba, thể chế, cơ chế, chính sách phát triển thị trường KHCN còn vướng ở đâu, mắc ở chỗ nào? Văn bản nào cần bổ sung, sửa đổi, văn bản nào cần thay thế, cấp nào là cấp có thẩm quyền?

- Cần có những giải pháp đột phá nào để thị trường KHCN phát triển đồng bộ, hiệu quả, hiện đại và hội nhập trong thời gian tới?

Để Hội nghị thực chất, hiệu quả, Thủ tướng đề nghị các đại biểu phát huy tinh thần thẳng thắn, cởi mở, xây dựng, cầu thị, phát biểu ngắn gọn, đi thẳng vào vấn đề.


21:23 ngày 23/09/2022

 

Thủ tướng nêu 6 nhóm nhiệm vụ, giải pháp để thị trường KHCN phát triển đồng bộ, hiệu quả, hiện đại và hội nhập

TỔNG THUẬT: Hội nghị

Thủ tướng Phạm Minh Chính: Lấy khoa học là nền tảng, nhà khoa học là động lực, doanh nghiệp là trung tâm. Ảnh VGP/Nhật Bắc

Phát biểu kết luận, Thủ tướng Phạm Minh Chính đánh giá cao ý kiến phát biểu của các đại biểu dự họp rất tâm huyết, trách nhiệm, đã phân tích, đánh giá sâu sắc về thực trạng tình hình và nguyên nhân, đề xuất những nhiệm vụ, giải pháp phát triển thị trường KHCN. Thủ tướng giao Bộ KH&CN chủ trì, phối hợp với VPCP và các cơ quan liên quan tiếp thu nghiêm túc các ý kiến, sớm hoàn thiện và trình ban hành văn bản chỉ đạo phù hợp về một số định hướng, giải pháp và nhiệm vụ trọng tâm phát triển thị trường KHCN.

Phát triển thị trường của các sản phẩm đặc biệt

Thủ tướng nhắc lại phát biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Chủ nghĩa xã hội cộng với khoa học, chắc chắn sẽ đưa loài người đến hạnh phúc vô tận..."; "Cách mạng xã hội chủ nghĩa gắn liền với sự phát triển khoa học và kỹ thuật, với sự phát triển văn hoá của nhân dân".

Các đại biểu cho rằng KHCN cần hiểu theo nghĩa rộng, gồm ý tưởng, quản lý và sản phẩm KHCN, từ đó có tư duy, phương pháp luận, cách tiếp cận và chính sách phù hợp với thị trường này, vừa có đặc điểm chung của các loại thị trường, vừa có đặc thù riêng của thị trường một loại sản phẩm đặc biệt – sản phẩm của trí tuệ.

Đảng ta luôn xác định, phát triển và ứng dụng KHCN là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ Tổ quốc; là một trong 3 đột phá chiến lược. Đây là nội dung cần được ưu tiên tập trung đầu tư trước một bước trong hoạt động của các ngành, các cấp; trong bối cảnh một nước đang phát triển, nền kinh tế đang chuyển đổi, chúng ta cần bình tĩnh, thận trọng, chắc chắn, không cầu toàn, không nóng vội với bước đi phù hợp, linh hoạt, có bản lĩnh để xử lý các vấn đề phát sinh.

Thị trường KHCN là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Phát triển mạnh mẽ thị trường KHCN là một nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thúc đẩy phát triển KHCN và đổi mới sáng tạo để tạo bứt phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả và tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế trong bối cảnh đang diễn ra cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Những năm qua, Đảng, Nhà nước luôn dành sự quan tâm đặc biệt, ban hành, triển khai thực hiện nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật để phát triển KHCN nói chung và thị trường KHCN nói riêng.

Các ý kiến tại hội nghị thống nhất đánh giá, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước; sự nỗ lực của các cấp, các ngành; sự vào cuộc tích cực của cả hệ thống chính trị, các tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp; sự tham gia, cống hiến của các chuyên gia, nhà khoa học; sự hỗ trợ của bạn bè, đối tác quốc tế, thị trường KHCN nước ta đã có bước phát triển và đạt được một số kết quả đáng ghi nhận.

Theo đó, thể chế, chính sách phát triển thị trường KHCN từng bước được hoàn thiện. Nguồn cung hàng hóa KHCN tăng đáng kể. Tốc độ tăng giá trị giao dịch hàng hóa KHCN trên thị trường bình quân hằng năm đạt 22%.

Kết quả nghiên cứu của các viện, trường, nhà khoa học trở thành hàng hóa được các doanh nghiệp, thị trường đón nhận. Nhu cầu và năng lực tiếp cận, hấp thụ và làm chủ công nghệ mới, công nghệ tiên tiến của các doanh nghiệp ngày càng tăng và được cải thiện.

Các đầu mối trung gian thị trường KHCN từng bước được hình thành với hơn 800 tổ chức, trong đó hơn 20 sàn giao dịch công nghệ đã đi vào hoạt động. Công tác xúc tiến thị trường KHCN tiếp tục được duy trì và đẩy mạnh.

Tuy nhiên, trong bối cảnh tình hình thế giới diễn biến nhanh, phức tạp; cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư tác động sâu rộng; đặc biệt là ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 làm trì trệ và gây nhiều cản trở hơn cho phát triển thị trường KHCN.

Thủ tướng cơ bản nhất trí với các đánh giá về hạn chế của thị trường KHCN như đã nêu trong Báo cáo của Bộ và lưu ý thêm:

So với nhu cầu thực tiễn và các thị trường khác, đặc biệt là so với các nước phát triển và một số nước trong khu vực, thị trường KHCN còn chậm phát triển, vận hành còn nhiều vướng mắc, nhiều nơi còn hình thức, thiếu thực chất.

Thể chế, chính sách phát triển thị trường KHCN còn bất cập, thiếu đồng bộ làm cho việc hợp tác giữa các doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học… gặp nhiều khó khăn, thậm chí ách tắc, nhất là trong bối cảnh tình hình có nhiều diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường, chưa có tiền lệ như hiện nay.

Việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu, tài sản trí tuệ của các viện nghiên cứu, trường đại học, các nhà khoa học còn hạn chế, làm khan hiếm nguồn cung hàng hóa KHCN trên thị trường.

Việc giao dịch mua bán công nghệ chủ yếu dưới hình thức hợp đồng mua sắm máy móc, thiết bị, vật tư. Việc chuyển giao công nghệ còn rất hạn chế.

Các tổ chức trung gian về chuyển đổi công nghệ còn yếu về năng lực, chưa đủ uy tín và chưa có thương hiệu để thúc đẩy giao dịch công nghệ; chưa có các tổ chức trung gian chuyên ngành trong các lĩnh vực, ngành hàng quan trọng. Chưa hình thành được mạng lưới các tổ chức trung gian trong nước, kết nối với thị trường khu vực và quốc tế.

Hệ thống hạ tầng quốc gia của thị trường KHCN còn yếu kém, lạc hậu, thiếu khả năng liên thông và tương tác giữa các chủ thể tham gia. Cổng thông tin quốc gia, cơ sở dữ liệu và nền tảng kỹ thuật số về thị trường KHCN chưa được đầu tư phát triển.

TỔNG THUẬT: Hội nghị

Thủ tướng Phạm Minh Chính trao đổi với các đại biểu. Ảnh VGP/Nhật Bắc

Thủ tướng nêu rõ, những hạn chế trên có nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ quan là chủ yếu.

Trong đó, nhận thức của các cấp, các ngành và các địa phương về vị trí, vai trò của thị trường KHCN trong thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN còn chưa đầy đủ, toàn diện. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo phát triển thị trường KHCN chưa đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn. Năng lực quản trị, vận hành còn yếu.

Các cơ chế, chính sách còn nhiều bất cập, chưa đồng bộ. Còn thiếu cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo động lực cho các nhà khoa học, nhà sáng chế chuyển giao, thương mại hóa kết quả nghiên cứu, tài sản trí tuệ.

Các tổ chức KHCN chưa chú trọng đúng mức đến hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu, tài sản trí tuệ như một phương thức biến tri thức khoa học thành hàng hóa, sức sản xuất hiện thực của xã hội.

Các tổ chức trung gian thị trường KHCN chưa được quan tâm và đầu tư phù hợp; việc nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ chưa được chú trọng.

Việc liên kết thị trường KHCN Việt Nam với thị trường quốc tế chưa được quan tâm đúng mức; chưa phát huy tiềm năng "chất xám" và quan hệ của đội ngũ các nhà khoa học người Việt Nam ở nước ngoài.

Lấy khoa học là nền tảng, nhà khoa học là động lực, doanh nghiệp là trung tâm

Thủ tướng nêu rõ, chúng ta đang tập trung xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với tích cực, chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả, hướng tới sở hữu những ngành công nghiệp phát triển, ứng dụng khoa học công nghệ, sở hữu những phát minh, sáng chế mới, những công nghệ tiên tiến. Tuy nhiên, theo Lê-nin, nếu "không xây dựng công nghệ, thì không giữ được địa vị độc lập của nước mình".

Đại hội lần thứ XIII của Đảng tiếp tục xác định 3 đột phá chiến lược, trong đó: "Tiếp tục phát triển toàn diện nguồn nhân lực, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo gắn với khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự cường và phát huy giá trị văn hóa, con người Việt Nam"; "Tiếp tục hoàn thiện và nâng cao chất lượng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đầy đủ, đồng bộ, hiện đại, hội nhập, trọng tâm là thị trường các yếu tố sản xuất, nhất là thị trường quyền sử dụng đất, khoa học, công nghệ".

Về phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển thị trường KHCN thời gian tới, Thủ tướng cơ bản nhất trí với Báo cáo và ý kiến phát biểu của các đại biểu dự Hội nghị. Thủ tướng nhấn mạnh một số nội dung sau:

Về quan điểm chung:

(1) Thị trường KHCN là một bộ phận cấu thành của thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, có vai trò then chốt trong việc thúc đẩy hoạt động KHCN và đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động, chất lượng hàng hóa, dịch vụ và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

(2) Phát triển thị trường KHCN phải lấy khoa học là nền tảng, nhà khoa học là động lực, doanh nghiệp là trung tâm, phù hợp với bối cảnh của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Huy động tối đa nguồn lực từ khu vực tư nhân và hợp tác quốc tế, đẩy nhanh tốc độ đổi mới sản phẩm và dịch vụ có độ tích hợp cao về công nghệ, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nhanh chóng gia nhập chuỗi giá trị toàn cầu và chiếm lĩnh thị trường quốc tế.

(3) Phát triển thị trường KHCN cần có chính sách đồng bộ, phù hợp, sự sẵn sàng của các nguồn cung cầu công nghệ, hệ thống hạ tầng kỹ thuật hiện đại cùng năng lực, uy tín và thương hiệu của các tổ chức trung gian.

(4) Phát triển thị trường KHCN cần được đặt trong bối cảnh và mối quan hệ biện chứng, liên thông, đồng bộ với phát triển thị trường hàng hóa, dịch vụ, lao động, tài chính và các thị trường khác; gắn kết thị trường trong nước với thị trường toàn cầu và khu vực, phù hợp với cam kết quốc tế của Việt Nam và thông lệ quốc tế.

(5) Phát triển thị trường KHCN phải tuân thủ các quy luật thị trường (quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh (cạnh tranh lành mạnh, công khai, minh bạch, bền vững để giảm giá thành, chất lượng cao, thanh toán thuận lợi).

TỔNG THUẬT: Hội nghị

Tập trung rà soát, tháo gỡ các khó khăn, điểm nghẽn về thể chế, cơ chế, chính sách để thị trường KHCN phát triển đồng bộ, hiệu quả, hiện đại và hội nhập. Ảnh VGP/Nhật Bắc

Về các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, Thủ tướng nêu rõ:

Thứ nhất, nâng cao nhận thức về thị trường KHCN. Tập trung rà soát, tháo gỡ các khó khăn, điểm nghẽn về thể chế, cơ chế, chính sách để thị trường KHCN phát triển đồng bộ, hiệu quả, hiện đại và hội nhập theo đúng tinh thần Đại hội XIII của Đảng và các nghị quyết của Bộ Chính trị, Quốc hội, Chính phủ.

Các bộ, ngành, cơ quan, địa phương xây dựng và lồng ghép kế hoạch phát triển thị trường KHCN vào kế hoạch phát triển KTXH 5 năm và hằng năm.

Thứ hai, triển khai hiệu quả 2 mục tiêu lớn và 7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra tại Chương trình Phát triển thị trường KHCN quốc gia đến năm 2030 theo Quyết định số 1158/QĐ-TTg ngày 13/7/2021 của Thủ tướng Chính phủ, trong đó:

- Thúc đẩy phát triển nguồn cung và cầu của thị trường KHCN, nâng cao năng lực hấp thụ, làm chủ và đổi mới công nghệ của doanh nghiệp, đẩy mạnh hợp tác giữa doanh nghiệp và viện nghiên cứu, trường đại học. Đẩy mạnh kết nối cung cầu, người mua và người bán, sản xuất và tiêu dùng.

- Nâng cao năng lực hoạt động các tổ chức trung gian, nhất là các tổ chức lớn, đa ngành và gắn với các ngành hàng xuất khẩu chủ lực. Khuyến khích, hỗ trợ phát triển tổ chức trung gian thuộc khu vực tư nhân. Phát triển mạnh mạng lưới tổ chức trung gian trên cơ sở kết nối các sàn giao dịch công nghệ, các tổ chức dịch vụ KHCN tại các viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp với các trung tâm ứng dụng, chuyển giao tiến bộ KHCN.

- Đầu tư phát triển các sàn giao dịch công nghệ quốc gia tại một số thành phố lớn và khu vực kinh tế trọng điểm đã được quy hoạch phê duyệt liên thông với hệ thống các trung tâm ứng dụng và chuyển giao công nghệ của các tỉnh, thành phố, kết nối với các sàn giao dịch công nghệ khu vực và thế giới.

- Tăng cường xúc tiến thị trường KHCN tại các địa bàn có nhiều nguồn cung công nghệ cao, tiên tiến và thân thiện môi trường, các thị trường tiềm năng mà Việt Nam có lợi thế thông qua các hiệp định thương mại tự do. Đẩy mạnh tổ chức các sự kiện xúc tiến thị trường KHCN quy mô vùng, quốc gia và quốc tế; quảng bá thị trường KHCN và đổi mới sáng tạo; lồng ghép, phối hợp với các sự kiện xúc tiến thương mại và đầu tư.

- Phát triển đồng bộ hệ thống hạ tầng quốc gia của thị trường KHCN. Từng bước liên thông, tích hợp với các nền tảng kỹ thuật số về thị trường KHCN trong nước và quốc tế.

- Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực KHCN. Đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của toàn xã hội về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của thị trường KHCN và phát triển thị trường KHCN. Phát triển các doanh nghiệp tiên phong trong mua bán công nghệ, nhất là công nghệ cao, công nghệ nguồn.

Thứ ba, đẩy mạnh kết nối liên thông, tiến tới đồng bộ hóa thị trường KHCN với các thị trường hàng hóa, dịch vụ, lao động và tài chính. Đẩy mạnh hợp tác công tư, huy động nguồn lực xã hội trong phát triển thị trường KHCN.

Thứ tư, tập trung xây dựng và triển khai thí điểm chính sách tạo động lực thương mại hóa, sớm đưa kết quả nghiên cứu, tài sản trí tuệ được tạo ra từ ngân sách nhà nước, từ hợp tác công tư và nghiên cứu của tư nhân vào sản xuất, kinh doanh.

Thứ năm, có chính sách khuyến khích doanh nghiệp nhập khẩu công nghệ lõi thông qua các viện nghiên cứu, trường đại học để giải mã, hấp thụ và làm chủ công nghệ, đẩy nhanh tốc độ đổi mới công nghệ của doanh nghiệp.

Thứ sáu, xây dựng chính sách khuyến khích đổi mới sáng tạo, xây dựng, chia sẻ cơ sở dữ liệu lớn để phát triển trí tuệ nhân tạo. Đẩy mạnh phát triển hệ sinh thái KHCN, thị trường KHCN đồng bộ, toàn diện hơn nữa.

Nhân dịp này, Thủ tướng trân trọng cảm ơn và mong muốn các quốc gia, tổ chức quốc tế tiếp tục quan tâm hỗ trợ, hợp tác chặt chẽ với Việt Nam trong công tác phát triển KHCN nói chung và phát triển thị trường KHCN nói riêng. Các nhà khoa học là người Việt Nam ở nước ngoài, thông qua hệ thống, mạng lưới của mình tham gia thiết thực, hiệu quả hơn nữa để hỗ trợ chuyển giao công nghệ cao, công nghệ xanh cho các tổ chức, cá nhân trong nước, đóng góp tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Trong giai đoạn phát triển mới, Thủ tướng tin tưởng rằng với sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước; quyết tâm, nỗ lực cao của các bộ, ngành, cơ quan, địa phương; sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị; sự chung tay, ủng hộ của cộng đồng doanh nghiệp và đồng bào trong và ngoài nước; sự hợp tác, hỗ trợ hiệu quả của các quốc gia, tổ chức, cá nhân nước ngoài, thị trường KHCN nói riêng và nền KHCN nói chung của nước ta sẽ có những bước phát triển mới, thiết thực, hiệu quả hơn, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

21:04 ngày 23/09/2022

 

Thị trường KHCN là thị trường rất đặc biệt, không thể bàn như "bán khoai, bán sắn"

TỔNG THUẬT: Thông qua đổi mới sáng tạo, Việt Nam có thể trở nên giàu có thịnh vượng - Ảnh 1.

PGS.TS Trần Đình Thiên: Việt Nam phải trở thành nơi hội tụ khoa học, hội tụ tài năng. Ảnh VGP/Nhật Bắc

PGS.TS Trần Đình Thiên, Nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam: Đây là Hội nghị đặc biệt quan trọng. Quả thực chúng ta phải bàn đến vấn đề này theo tầm nhìn khác trước.

Nếu thảo luận về chuyện bán hàng, sản xuất ra hàng rồi bán hàng thì không phải. Đây là phát triển một thị trường rất đặc biệt, một cấu trúc thể chế của nền kinh tế hiện đại. Ta đi sau mà ta muốn vượt lên, vẫn bàn như việc "bán khoai, bán sắn" thì không được.

Trong kinh tế thị trường thì phát triển thị trường là cái khó nhất. Chúng ta phải bàn thị trường KHCN như một yếu tố nền tảng của nền kinh tế thị trường, chứ không phải chỉ là chuyện của một ngành, một lĩnh vực cụ thể.

Việc phát triển thị trường rất khó. Ít nhất 30-40 năm nay, câu chuyện phát triển đồng bộ hệ thống thị trường khó như nào như thị trường bất động sản, tiền tệ… Từ đó, để biết rằng thị trường KHCN – một thị trường liên quan đến sản phẩm trí tuệ còn khó hơn rất nhiều. Nên bàn về thị trường này không thể đơn giản được. Cần phải đặt vấn đề, tầm như thế để giải quyết.

Thứ hai, chúng ta đang ở thời đại công nghệ cao, tức là KHCN và trí tuệ con người là nguồn lực quan trọng nhất. Chúng ta đang bàn đến một thị trường rất quan trọng cho phát triển, rất khó và cũng rất mới. Chúng ta phải bàn đến thị trường này như là một thị trường then chốt bậc nhất trong hệ thống thị trường, là thị trường dẫn dắt phát triển thì nền kinh tế chúng ta mới phát triển được.

Kinh nghiệm của Trung Quốc, cho thấy họ làm bài bản, tầm nhìn xa nên họ nhảy vọt, gần như đuổi kịp các nền kinh tế bậc nhất. Những năm 90, thu nhập đầu người của Trung Quốc tương đương Việt Nam, còn bây giờ gấp 5-6 lần. Thực lực KH&CN đứng thứ hai thế giới.

Thời đại công nghệ cao thì chúng ta phải nhìn KHCN, sản phẩm KHCN tầm cỡ như thế để bàn về thị trường của nó, chứ không phải thị trường bình thường. Tất nhiên, thị trường nào cũng quan trọng, có vai của nó. Nhưng mỗi thời đại thì có những vai riêng thì phải nhận diện cho rõ

Thứ ba, ta là nước đi sau, đây là lợi thế hay thách thức. Tất nhiên là nhiều lợi thế, chúng ta có thể rút ngắn được rất nhiều. Nhưng chúng ta lại thiếu nguồn lực, thiếu điều kiện, thiếu nền tảng.  Những nước như Hàn Quốc, Trung Quốc biết lợi thế đi sau để bứt lên, dành tối đa nỗ lực quốc gia cho KHCN. KHCN bao giờ trở thành lĩnh vực trụ cột của nền kinh tế, dẫn dắt phát triển nền kinh tế thì lúc đó chúng ta mới bàn về thị trường theo đúng nghĩa được

Thứ 4, chúng ta phải hiểu được thị trường KHCN là gì? Sản phẩm của nó định giá như nào? Đây là thị trường đặc biệt! Một chiếc đĩa mềm, USB có thể vài chục, trăm nghìn nhưng thông tin chứa ở trong đó thì khác. Với thị trường này, định giá sản phẩm rất khó, rất nhiều rủi ro, bởi thay đổi rất nhanh. Một sản phẩm hôm trước 1 tỷ, hôm sau có thể là mấy tỷ. Biến hóa, phạm vi, không gian sản phẩm trí tuệ rộng vô cùng, luôn luôn mới, thay đổi nhanh. Cho nên có câu chuyện sandbox về mặt chính sách.

Việt Nam phải trở thành nơi hội tụ khoa học, hội tụ tài năng

Chúng ta phải định nghĩa đây là một thị trường mà sản phẩm của nó rất đặc biệt và cơ chế vận hành rất đặc biệt. Bộ KH&CN phải phối hợp với những bộ về kinh tế để giải quyết vấn đề thị trường KHCN là gì? Vận hành như thế nào? Hỗ trợ phát triển như thế nào?

Về điều kiện để thị trường KHCN phát triển, đầu tiên, đất nước phải có tầm nhìn thời đại về KHCN để định hướng rõ: KHCN phải là trục chính, trục dẫn dắt cho sự phát triển quốc gia. Nếu không có tầm nhìn đó thì không phát triển được.

Thứ hai, đó là sự hỗ trợ của Nhà nước. Đây là thị trường mới, khó và ta lại là nước đi sau nên vai trò "bà đỡ" của Nhà nước là cực kỳ quan trọng. Vai trò này thể hiện ở 3 mặt: Nhà nước cung cấp cơ sở vật chất ban đầu, có cơ chế chính sách, một hệ thống thể chế tương thích với đối tượng này thì thị trường mới phát triển được, ví dụ phải có Luật Sở hữu trí tuệ tương xứng hay như Luật Lao động cũng phải quan tâm về lao động trí óc…

Tiếp đó, Nhà nước phải là người mua sản phẩm KHCN nhiều nhất. Đây là điều kiện khuyến khích các doanh nghiệp. Nếu Nhà nước là người mua hàng lớn nhất thì thị trường này phát triển rất nhanh. Cách tiếp cận người mua là rất quan trọng

Thứ ba là phải phát triển một thị trường cạnh tranh. Thị trường không cạnh tranh thì không có động lực cho sáng tạo, KHCN phát triển. Bàn về thị trường KHCN thì nền kinh tế này phải cạnh tranh, trong đó khu vực doanh nghiệp đặc biệt doanh nghiệp tư nhân phải là nền tảng cho sự phát triển. Nếu không có cạnh tranh thì không có thị trường KHCN, đây là điểm mấu chốt.

Trong cách phát triển thị trường thì phải có cách tiếp cận, bước đi phải thật sự "chuẩn". Chúng ta đi sau thì nhập khẩu công nghệ, tiếp nhận công nghệ là chính hay sáng tạo công nghệ là chính? Nguồn lực chúng ta ít thì "bỏ" vào đâu là hợp lý? Đây là câu chuyện quan trọng và đúng với tinh thần tận dụng được lợi thế đi sau.

Chúng ta cũng phải tập trung vào hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia. Việt Nam phải trở thành nơi hội tụ khoa học, hội tụ tài năng. Chúng ta mời được các tập đoàn lớn về, làm sao để cũng nhau phát triển năng lực tự thân của chúng ta, phải có lợi cả 2 bên.

20:41 ngày 23/09/2022

 

Cần huy động tổng lực nguồn lực cho KHCN

TỔNG THUẬT: Thông qua đổi mới sáng tạo, Việt Nam có thể trở nên giàu có thịnh vượng - Ảnh 1.

Thứ trưởng Tạ Anh Tuấn: Cần huy động tổng lực nguồn lực cho KHCN. Ảnh VGP/Nhật Bắc

Báo cáo một số nội dung về chính sách tài chính phục vụ cho phát triển lĩnh vực khoa học và công nghệ và phát triển thị trường khoa học công nghệ, Thứ trưởng Bộ Tài chính Tạ Anh Tuấn cho biết, đối với nguồn lực của ngân sách nhà nước đầu tư cho khoa học công nghệ: Trong 5 năm vừa qua, chúng ta đầu tư khoảng 82.700 tỷ cho lĩnh vực khoa học công nghệ, trên 2,1 lần so với giai đoạn trước.

Tuy nhiên việc huy động nguồn lực cho phát triển khoa học công nghệ còn nhiều hạn chế, trong đó có cả các nguồn lực xã hội hóa, mới tập trung vào nguồn lực ngân sách nhà nước cũng như nguồn lực của một số doanh nghiệp, còn một số nguồn lực khác như nguồn lực đầu tư trong và ngoài nước thì còn hạn chế.

Trong thời gian tới, cần huy động tổng lực nguồn lực hơn, có hướng huy động nguồn lực từ trên thị trường chứng khoán, thông các quỹ đầu tư mạo hiểm cho lĩnh vực khoa học công nghệ và các sản phẩm khoa học công nghệ.

Thứ hai là đối với các chính sách thuế, chính sách thuế của chúng ta áp dụng chung cho tất cả các thành phần và lĩnh vực kinh tế. Tuy nhiên đối với lĩnh vực khoa học công nghệ thì cơ bản chúng ta đã ưu đãi giảm thuế ở mức cao nhất đối với lĩnh vực khoa học công nghệ, kể cả thuế xuất nhập khẩu, về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng. Và trong chiến lược thuế đến năm 2030, chúng ta tiếp tục ưu đãi cao đối với lĩnh vực khoa học công nghệ.

Thứ ba là đối với quỹ phát triển khoa học công nghệ của các doanh nghiệp, Bộ Tài chính cũng đang dự thảo Thông tư và xin ý kiến của các bộ, ngành để hướng khuyến khích thành lập, huy động nguồn lực từ các quỹ phát triển khoa học công nghệ của các doanh nghiệp.

Thứ tư là đối với chính sách chuyển giao kết quả nghiên cứu khoa học, ở đây có một số vướng mắc trong hướng dẫn Luật Tài sản công cũng như sự chồng chéo giữa Luật Tài sản công và Luật Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính cũng đang sửa đổi Nghị định 70 hướng dẫn Luật Tài sản công, theo hướng sẽ không bồi hoàn lại tiền ngân sách nhà nước đã đầu tư đối với các tổ chức, cá nhân nghiên cứu các sản phẩm khoa học công nghệ, để phục vụ chuyển giao các sản phẩm khoa học công nghệ.

Nếu chúng ta sửa đổi theo hướng này sẽ khuyến khích trong việc chuyển giao các sản phẩm khoa học công nghệ.

Thứ năm về định giá công nghệ, đây là vấn đề phức tạp, Bộ Tài chính đã đưa và từng bước đưa chuẩn mực quốc tế về định giá vào trong định giá của Việt Nam. Tuy nhiên về định giá, đặc biệt là định giá tài sản vô hình là rất khó khăn và sản phẩm khoa học công nghệ là những tài sản vô hình. Mặc dù chúng ta đã có những chuẩn mực theo thông lệ chung rồi nhưng quan trọng là phải có chính sách để bảo vệ các tổ chức cá nhân và khuyến khích trong thực hiện chuyển giao và thương mại hoá các sản phẩm khoa học công nghệ.

20:34 ngày 23/09/2022

 

Cần có các Chương trình đầu tư một cách quyết liệt, đủ ngưỡng để phát triển KHCN

TỔNG THUẬT: Thông qua đổi mới sáng tạo, Việt Nam có thể trở nên giàu có thịnh vượng - Ảnh 1.

Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải: Cần có các Chương trình đầu tư một cách quyết liệt, đủ ngưỡng để phát triển KHCN. Ảnh VGP/Nhật Bắc

Phát biểu tại hội nghị, Thứ trưởng Bộ Công Thương Đỗ Thắng Hải nêu vấn đề: Tại sao thị trường KHCN chưa phát triển? Trên thực tế, dưới góc độ ngành công thương thì thấy rằng các doanh nghiệp chỉ tiếp cận thị trường KHCN khi họ có đủ năng lực làm chủ công nghệ, cải tiến và đổi mới công nghệ để tác động vào quá trình đổi mới sản phẩm và ở mức cao là việc phát triển công nghệ, tạo ra những sản phẩm mới trên thị trường.

Hiện nay ở Việt Nam cũng như trên thế giới, có 4 cấp độ phát triển công nghệ của doanh nghiệp: Cấp độ 1 là mua sắm, vận hành dây chuyền, thiết bị công nghệ đồng bộ; Tiếp theo là Hấp thụ đồng hóa công nghệ nhập khẩu; Mức độ 3 là Thích nghi, làm chủ công nghệ và cao nhất là Sáng tạo công nghệ, phát triển các công nghệ mới nổi.

Hiện nay ở Việt Nam các doanh nghiệp sản xuất chủ yếu là chế biến chế tạo mà đây là lĩnh vực Việt Nam đang đóng vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế. Ví dụ chúng ta nói rất nhiều về xuất khẩu nhưng chỉ riêng sản phẩm về chế biến chế tạo của Việt Nam trong công nghiệp chế biến-chế tạo đã chiếm tới khoảng 80-82%.

Tuy nhiên hiện nay lĩnh vực chế biến chế tạo rất năng động nhưng trình độ phát triển KHCN của các doanh nghiệp tại Việt Nam rất thấp, phần lớn là các công nghệ đơn giản để cải thiện việc kinh doanh của doanh nghiệp. Một số công nghệ đã bao hàm trong máy móc và hoạt động công nghệ hiện nay tập trung vào việc cải tiến quy trình và tối ưu hóa dây chuyền hiện có. Số ít doanh nghiệp có khả năng làm chủ, cải tiến công nghệ từ đó mới cải tiến sản phẩm hoặc phát triển công nghệ để tạo ra sản phẩm mới.

Hiện nay cầu ở Việt Nam đối với các sản phẩm khoa học công nghệ là chưa tới ngưỡng, do đó việc phát triển thị trường KHCN ở Việt Nam cần có giải pháp toàn diện, kết hợp đồng bộ với các yếu tố thị trường.

Đối với ngành công thương, thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng khóa XIII, ngành công thương đã đạt mục tiêu tái cơ cấu theo chiều sâu, với trọng tâm là việc xây dựng năng lực tự chủ về sản xuất và thị trường để hình thành năng lực sản xuất quốc gia mới có tính độc lập, thích ứng và chống chịu cao trước các tác động lớn, bất thường từ bên ngoài, bảo đảm tham gia hiệu quả vào chuỗi giá trị toàn cầu; phát triển các ngành công nghiệp có tính nền tảng như: cơ khí, hóa chất, vật liệu, công nghiệp hỗ trợ… Để hiện thực hóa mục tiêu này, việc phát triển KHCN cần triển khai theo 2 hướng:

Thứ nhất là nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ, từng bước hình thành một mặt bằng mới về trình độ công nghệ của các doanh nghiệp trong lĩnh vực chế biến chế tạo.

Thứ hai, cần hình thành năng lực tiếp thu, làm chủ và tiến tới phát triển một số công nghệ lõi, gắn với phát triển các ngành công nghiệp nền tảng và phát triển các sản phẩm công nghiệp chủ lực

Các doanh nghiệp cần tiếp tục khơi thông nguồn tài chính phục vụ hoạt động đổi mới công nghệ của doanh nghiệp. Ngoài các quy định liên quan tới tiếp cận các nguồn vốn ưu đãi; cần sớm sửa đổi các quy định về sử dụng Quỹ KHCN của doanh nghiệp, tăng tính hấp dẫn của nguồn tài chính này; đồng thời trao quyền chủ động cho doanh nghiệp để sử dụng nguồn Quỹ cho các hoạt động đổi mới công nghệ tại doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao (bao gồm cả nhân lực về quản lý, quản trị và kỹ thuật công nghệ) phục vụ cho các ngành sản xuất công nghiệp - đây là yếu tố tiền đề thúc đẩy việc tiếp thu, học hỏi công nghệ tri thức mới và triển khai các hoạt động đổi mới sáng tạo.

Về giải pháp đối với hệ thống các tổ chức KHCN (phát triển nguồn cung), để hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ ở mức thấp, về mặt chính sách, cần ưu tiên tập trung phát triển hệ thống các tổ chức KHCN có tính ứng dụng. Nhà nước duy trì đầu tư để đảm bảo năng lực cạnh tranh (dẫn dắt) về công nghệ của các tổ chức này so với khối sản xuất; hỗ trợ hoạt động mua, giải mã các sáng chế công nghệ của thế giới, từ đó quay lại hỗ trợ việc ứng dụng tại doanh nghiệp trong nước.

Ngoài ra, còn yêu cầu đồng bộ về mặt chính sách, năng lực tự chủ về sản xuất và khả năng chủ động tham gia một cách hiệu quả vào chuỗi cung ứng dựa trên năng lực làm chủ công nghệ lõi ở các khâu tạo ra giá trị gia tăng cao. Để làm được điều này, cần sự đồng bộ giữa chính sách về phát triển ngành và chính sách về KHCN.

Về chính sách phát triển ngành, cần chú trọng tới các chính sách thu hút đầu tư, trong đó, đặc biệt với các nhà đầu tư có công nghệ cao, hiện đại; khuyến khích chuyển giao công nghệ trong nước với các nhà đầu tư nước ngoài và hình thành các liên kết để thúc đẩy chuỗi cung ứng trong nước.

Về chính sách KHCN, song hành với Chiến lược phát triển các ngành, lĩnh vực, sản phẩm chủ lực cần có các Chương trình đầu tư một cách quyết liệt, đủ ngưỡng của Nhà nước để phát triển KHCN với sản phẩm đầu ra cuối cùng là các sản phẩm công nghiệp ở trình độ, năng lực cạnh tranh cao, quy mô công nghiệp.

Ở khía cạnh của thị trường KHCN, yêu cầu đầu ra chính là khả năng làm chủ, sáng tạo công nghệ lõi hay tự chủ về mặt công nghệ của các tổ chức KHCN trong nước. Để làm được điều này, Nhà nước cần đầu tư để hình thành những tổ chức KHCN đi đầu trong khu vực, tiến tới là đối với các công nghệ lõi cần làm chủ. 

20:26 ngày 23/09/2022

 

Hà Nội 'xin' cơ chế, thử nghiệm chính sách mới về KH&CN và đổi mới sáng tạo

Báo cáo kết quả hoạt động quản lý nhà nước về phát triển thị trường KH&CN, với công tác xây dựng, ban hành các văn bản pháp luật về phát triển thị trường KH&CN, Phó Chủ tịch UBND TP. Hà Nội Chử Xuân Dũng cho biết: Từ năm 2016 đến nay, Hà Nội đã ban hành trên 15 văn bản gồm 2 chương trình của Thành ủy; 3 nghị quyết của HĐND Thành phố; 2 đề án, 5 kế hoạch.

Bên cạnh đó, thành phố Hà Nội tích cực tham gia vào quá trình hoàn thiện cơ sở pháp lý, thường xuyên trao đổi thông tin, cung cấp số liệu thực tiễn và phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ trong việc hoàn thiện các văn bản pháp lý có liên quan đến phát triển thị trường và doanh nghiệp KH&CN.

Về công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức, chính sách pháp luật về thị trường KH&CN, Hà Nội chú trọng và đổi mới theo từng năm thông qua các sự kiện, hội nghị, hội thảo.

Về hỗ trợ, phát triển tổ chức trung gian của thị trường KH&CN: Hà Nội đã triển khai, đưa vào sử dụng có hiệu quả 3 dự án hạ tầng KH&CN đã được phê duyệt để nâng cao tiềm lực KH&CN.

Về phát triển nguồn cung công nghệ và doanh nghiệp KH&CN: TP. Hà Nội chủ trương đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng KH&CN trong tất cả các ngành, lĩnh vực của Thủ đô, trong đó tập trung phát triển có chọn lọc một số công nghệ trọng điểm, công nghệ tiên tiến, có tác động to lớn tới việc hiện đại hóa các ngành kinh tế kỹ thuật, tạo điều kiện hình thành và phát triển một số ngành nghề mới; tạo ra sản phẩm có khả năng xuất khẩu và việc làm có thu nhập cao cho các tầng lớp dân cư.

Thông qua nhiệm vụ KH&CN hàng năm một số doanh nghiệp có tiềm năng trở thành doanh nghiệp KH&CN đã được hỗ trợ ươm tạo, hoàn thiện, làm chủ công nghệ, trực tiếp sản xuất sản phẩm từ kết quả KH&CN làm cơ sở thành lập doanh nghiệp KH&CN.

Tính đến tháng 9/2022 Hà Nội đang dẫn đầu cả nước với 127 doanh nghiệp KH&CN đã được chứng nhận trên tổng số khoảng 600 doanh nghiệp KH&CN của cả nước).

Về thu hút nguồn vốn của xã hội đầu tư cho KH&CN: Công tác xã hội hóa trong nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ ngày càng được các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội tích cực tham gia, cơ cấu đầu tư cho các nhiệm vụ KH&CN với đóng góp của các nguồn vốn ngoài ngân sách ngày càng được mở rộng thông qua 3 phương thức sau: 

Thứ nhất là hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ thông qua dự án sản xuất thử nghiệm theo quy định tại Thông tư liên tịch số 22/2011/TTLT-BKHCN-BTC.

Thứ hai, doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn của doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu khoa học và đề nghị cơ quan chuyên môn về KH&CN xem xét, đánh giá và cấp giấy xác nhận kết quả nghiên cứu.

Thứ ba là thành lập Quỹ phát triển KH&CN trong doanh nghiệp để triển khai thực hiện nhiệm vụ KH&CN các cấp, nâng cao tiềm lực KH&CN của doanh nghiệp.

Về đánh giá chung kết quả hoạt động quản lý nhà nước về phát triển thị trường KH&CN:

Thứ nhất về những mặt được: Thời gian qua hoạt động KH&CN của thành phố Hà Nội nói chung và phát triển thị trường KH&CN nói riêng được Thành ủy quan tâm, chỉ đạo sâu sát và đạt được một số kết quả đánh ghi nhận. Hà Nội đã khẳng định vai trò là trung tâm hàng đầu về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của cả nước.

Thứ hai, Hà Nội đã quan tâm khai thác, phát huy tiềm lực KH&CN trên địa bàn, nhất là trí tuệ, tiềm năng "chất xám" của đội ngũ trí thức, các trường đại học và cao đẳng, viện nghiên cứu, từng bước góp phần nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của kinh tế Thủ đô.

Thứ ba, tiềm lực KH&CN được quan tâm đầu tư phát triển.

Thứ tư, bố trí nguồn nhân lực, nỗ lực không ngừng và đóng góp nhất định cho việc hình thành và phát triển thị trường KH&CN tại Việt Nam.

Thứ 5, thị trường KH&CN tiếp tục được đẩy mạnh với nhiều hình thức. Các sản phẩm KH&CN đã và đang trở thành hàng hóa, nhu cầu mua bán công nghệ ngày càng tăng.

Thứ 6, hoạt động hợp tác trong lĩnh vực KH&CN tiếp tục được tăng cường thông qua việc tổ chức, tham gia các sự kiện kết nối cung-cầu công nghệ, các hội nghị, hội thảo liên ngành, liên vùng.

Thứ 7, hoạt động ươm tạo công nghệ từ các kết quả đề tài nghiên cứu các cấp cũng được triển khai với nhiều kết quả, nhiều sản phẩm đã được thương mại hóa và xuất khẩu.

Thứ tám, về khơi thông các nguồn lực, tăng cường huy động nguồn lực xã hội đầu tư cho KH&CN và đổi mới sáng tạo, nhất là từ doanh nghiệp đã được quan tâm.

Bên cạnh kết quả đạt được, vẫn còn một số tồn tại, hạn chế:

Một là, hoạt động KH&CN của TP.  Hà Nội chưa xứng với tiềm năng, lợi thế của Thủ đô. Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa thực sự trở thành động lực quan trọng để nâng cao năng suất lao động, khả năng cạnh tranh, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô.

Hai là, việc phát triển thị trường KH&CN ở Việt Nam nói chung và trên địa bàn Hà Nội nói riêng vẫn còn hạn chế. Thị trường KH&CN của Thủ đô còn manh mún, chưa hội tụ đầy đủ các yếu tố của thị trường, hiệu quả chưa cao; vai trò của các tổ chức trung gian, tư vấn chuyển giao công nghệ còn mờ nhạt, nhất là các tổ chức có chức năng đánh giá, định giá công nghệ, xúc tiến và môi chuyển giao công nghệ.

Ba là, chưa huy động có hiệu quả các nguồn lực xã hội và doanh nghiệp đầu tư phát triển thị trường KH&CN: Số doanh nghiệp KH&CN, doanh nghiệp được thu hút tham gia, chủ trì các đề tài, đặc biệt là dự án sản xuất thử nghiệm nhằm tạo ra được công nghệ mới và trực tiếp đưa kết quả nghiên cứu, thử nghiệm vào sản xuất thành các sản phẩm thương mại, còn rất ít so với tổng số doanh nghiệp của Thủ đô.

Bốn là, việc Nhà nước hỗ trợ chuyển giao công nghệ, ứng dụng kết quả sản phẩm từ các nhiệm vụ KH&CN cấp thành phố còn rất hạn chế do chưa giải quyết được các vướng mắc theo quy định tại Nghị định số 70/2018/NĐ-CP về bồi hoàn giá trị tài sản là trang thiết bị nghiên cứu hoặc là kết quả nghiên cứu có sử dụng NSNN.

Năm là, việc thành lập và sử dụng Quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp còn hạn chế. Tỉ lệ trích lập quỹ thấp, không ổn định qua các năm. Nhiều doanh nghiệp, tập đoàn lớn trích lập quỹ nhưng không sử dụng được.

Về các đề xuất kiến nghị: Thứ nhất, đề nghị Chính phủ và các bộ, ngành cho phép Hà Nội thực hiện cơ chế, thử nghiệm chính sách mới trong lĩnh vực KH&CN và đổi mới sáng tạo, trước hết là các chính sách thúc đẩy ứng dụng, chuyển giao công nghệ mới; đổi mới cơ chế quản lý cho hoạt động KH& CN và đổi mới sáng tạo.

Xây dựng các cơ chế, chính sách đặc thù của Thủ đô trong thúc đẩy ứng dụng, chuyển giao công nghệ, làm chủ công nghệ mới và hỗ trợ hoạt động đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp.

Thứ hai là hoàn thiện chính sách vượt trội nhằm thu hút, đào tạo, đãi ngộ và sử dụng đội ngũ trí thức, nhất là đội ngũ chuyên gia công nghệ, nhà khoa học đầu ngành, nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài, các nhà khoa học quốc tế.

Thứ ba là thông qua Hội đồng điều phối vùng Thủ đô đề xuất với Chương trình KH&CN quốc gia đặt hàng và giao Thủ đô Hà Nội chủ trì các nhiệm vụ KH&CN có tính liên vùng, liên ngành để giải quyết các vấn đề phát triển kinh tế-xã hội Vùng Thủ đô.

Thứ tư là phân định rõ ràng trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước (ngành tài chính, cơ quan thuế, ngành khoa học và công nghệ, ngành kế hoạch và đầu tư) trong hướng dẫn doanh nghiệp trích và sử dụng quỹ; thanh tra, kiểm tra và xử lý đối với doanh nghiệp không thực hiện theo quy định.

20:05 ngày 23/09/2022

 

Giá trị của các sản phẩm KHCN không phải dựa trên khối lượng thành công mà trên giá trị chất xám

Đại diện UBND TPHCM cho biết, TPHCM với vai trò là trung tâm KHCN của cả nước, đã cung cấp các công nghệ mới, công nghệ nguồn cho các tỉnh, thành. Để phát triển thị trường KHCN, Thành phố đã ban hành các chương trình, kế hoạch cụ thể góp phần định hình thị trường KHCN phù hợp với chủ trương của Thành phố, của Chính phủ với sự tham gia tích cực của khu vực kinh tế tư nhân, thị trường công nghệ đã hình thành các hệ sinh thái trong các ngành trọng yếu, đóng góp quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế của Thành phố.

Theo thống kê, tổng đầu tư giai đoạn 2016-2020 ngân sách Thành phố đã đầu tư cho khoa học và công nghệ trên 55.000 tỷ đồng, đạt bình quân 10.006 tỷ đồng/năm.

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm Thành phố đã đặt ra là xây dựng và vận hành Sàn giao dịch công nghệ (SGDCN) như là một giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ, góp phần phát triển thị trường KHCN.

Thành phố đã tổ chức các hoạt động của SGDCN với sự tham gia của các bên cung - cầu công nghệ và các tổ chức dịch vụ trung gian.

Đến nay, Cổng thông tin đổi mới sáng tạo và Chuyển giao công nghệ TPHCM (Techport) có tổng số 14.037 công nghệ và thiết bị của 1.942 nhà cung ứng. Các công nghệ được quan tâm nhiều trên Techport tập trung vào các lĩnh vực công nghệ thông tin, nông nghiệp, chế biến thực phẩm, công nghệ sinh học... Hiện nay Thành phố đã kết nối, hỗ trợ 2 tỉnh: Bình Phước, Tây Ninh khai trương Sàn giao dịch công nghệ.

Ngoài ra, Thành phố đang mở rộng kết nối với Sàn giao dịch công nghệ các tỉnh thành lân cận và trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.

Với xu thế chuyển đổi số, từ năm 2021, Techmart chuyên ngành được Thành phố tổ chức theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến, giúp các doanh nghiệp, tổ chức và người dân Thành phố nói riêng và khu vực phía Nam nói chung tham quan, tìm kiếm giải pháp công nghệ một cách dễ dàng.

TPHCM đã phối hợp vận động 55 doanh nghiệp công nghệ tham gia các sự kiện KHCN tại An Giang, Sóc trăng, Cần Thơ, Tiền Giang, Bình Phước, Tây Ninh… giới thiệu nhiều sản phẩm công nghệ cho doanh nghiệp địa phương lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao, công nghệ sau thu hoạch, công nghệ sinh học, chuyển đổi số trong sản xuất - phân phối,…

Hoạt động trình diễn công nghệ là hoạt động nổi bật từ năm 2018 đến nay, thu hút được sự quan tâm của đông đảo doanh nghiệp, nhà cung ứng và các trung tâm nghiên cứu, chuyển giao công nghệ. Các hội thảo mà TPHCM gần đây tổ chức kết hợp trình diễn công nghệ trên nền của internet đã có hiệu quả lan tỏa gấp hơn 10 lần so với tổ chức hội thảo truyền thống.

Trong giai đoạn vừa qua, TPHCM luôn triển khai các hoạt động nhằm thúc đẩy hình thành hệ thống các tổ chức dịch vụ, tư vấn, môi giới chuyển giao công nghệ; các tổ chức xúc tiến chuyển giao, thương mại hóa công nghệ thúc đẩy phát triển tài sản trí tuệ. Đến nay Thành phố đã có 240 tổ chức thực hiện các dịch vụ trung gian KHCN.

Trong giai đoạn 2016-2020, số đơn đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp và nhãn hiệu của các chủ thể trên địa bàn Thành phố là 91.242 đơn, chiếm 39% cả nước.

Để đào tạo, bồi dưỡng chuyên gia KHCN giai đoạn 2016 đến nay, Thành phố đã triển khai khoá đào tạo về đổi mới sáng tạo theo mô hình của Thụy Điển cho các cán bộ quản lý KHCN tại các cơ quan quản lý nhà nước, các vườn ươm công nghệ và các trường đại học. Cử cán bộ đi học tập kinh nghiệm ở các nước tiên tiến cũng như tổ chức các sự kiện, hội thảo khoa học với sự tham gia của các chuyên gia nước ngoài. Kết nối các doanh nghiệp nước ngoài chuyển giao công nghệ ở Việt Nam.

Với các kết quả như trên, thị trường KHCN TPHCM đến nay đã có những chuyển biến tích cực thu hút được nhiều viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp sản xuất tổ chức, các trung gian tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.

Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng TPHCM cũng gặp một số khó khăn, vướng mắc và có những tồn tại, hạn chế có nhiều điểm tương đồng với Hà Nội.

TPHCM có một số kiến nghị như sau:

Đúng như Bộ trưởng Lê Minh Hoan đã nói, việc chúng ta muốn ra được một thị trường đầy đủ thì phải có nguồn cung tốt, chất lượng cao, biết sử dụng nguồn cung này. Nhà sử dụng là cầu nối giữa cung và cầu. Nhưng hiện nay chúng tôi nhận thấy trong khâu có thể tạo ra được các sản phẩm chất lượng cao, tức là cung tốt thì đang vướng mắc ở chỗ, các sản phẩm, các quy định về thực hiện các đề tài nghiên cứu, xây dựng ra các sản phẩm KHCN, bởi vì các quy định hiện nay phần lớn theo các quy định tương tự như chúng ta xây dựng công trình xây dựng và chúng ta tính ra ngày công lao động. Do đó, nếu chúng ta quy đổi thành khối lượng công việc thì thường sẽ rất khó và những nhóm nghiên cứu họ thường đăng ký những sản phẩm chắc chắn thành công và vì vậy thường rất khó để ra được sản phẩm chất lượng cao.

Vì vậy, một trong những đề xuất đối với Chính phủ, Bộ Khoa học và Công nghệ, các bộ ngành liên quan là mong muốn nghiên cứu, xây dựng chính sách để có thể phát huy được lực lượng tài năng, chất xám của các nhà khoa học Việt Nam, tạo ra các sản phẩm tốt và chúng ta phải tính toán giá trị của các sản phẩm này không phải dựa trên khối lượng thành công mà trên giá trị chất xám thực sự của nó.

19:58 ngày 23/09/2022

 

Sơn La đề nghị hỗ trợ kết nối cung cầu với các cơ sở nghiên cứu khoa học

Đại diện UBND tỉnh Sơn La cho biết: Sơn La là một trong 3 tỉnh có diện tích lớn nhất cả nước với 14.109 km2. Trong đó có 1.056.000 ha đất nông nghiệp, trong diện tích đất nông nghiệp có 84.000 ha cây ăn quả. Địa phương đang đứng thứ 2 toàn quốc về diện tích cây ăn quả.

Trong phát triển cây ăn quả chủ yếu tập trung vào cây ăn quả dài ngày như: Nhãn, xoài và các cây ăn quả khác. Sản lượng đạt được xung quanh 450 nghìn tấn. Sơn La đã có 24 sản phẩm nông sản được Cục Sở hữu trí tuệ cấp văn bằng bảo hộ; có 241 mã số vùng trồng; đã có 17 sản phẩm nông sản xuất khẩu sang thị trường các nước và khu vực.

Về tiến bộ khoa học kỹ thuật, Sơn La triển khai các mô hình có trị giá khoảng 200 triệu đồng mỗi ha như: Xoài, nhãn chín muộn, bơ, thanh long… hoặc trị giá tới 300-400 triệu mỗi ha như quả na và dâu tây. Tuy nhiên, các sản phẩm chủ yếu là xuất khẩu thô, chưa chế biến sâu.

Về thị trường khoa học công nghệ, ngoài các điều kiện thuận lợi, Sơn La có 2 điểm khó khăn chính là toàn tỉnh chỉ có 12 doanh nghiệp khoa học công nghệ nhưng quy mô nhỏ, hàm lượng khoa học công nghệ và tính cạnh tranh thấp. Hoạt động giao dịch, mua bán sản phẩm khoa học công nghệ chưa diễn ra trên địa bàn.

Tỉnh Sơn La đề nghị các bộ, ngành nghiên cứu, xem xét hỗ trợ, hướng dẫn thành lập các tổ chức trung gian như sàn giao dịch công nghệ, trung tâm giao dịch công nghệ…; hỗ trợ kết nối cung - cầu với các trường đại học, viện nghiên cứu.

Sơn La đề xuất Bộ Khoa học và Công nghệ một số nhiệm vụ như: Nghiên cứu xử lý vỏ cà phê làm phân bón hữu cơ; ứng dụng công nghệ chế biến các sản phẩm quả như quả sơn tra (táo mèo) làm siro…

19:20 ngày 23/09/2022

 

Đại sứ Australia: Thông qua đổi mới sáng tạo, Việt Nam có thể trở nên giàu có thịnh vượng

TỔNG THUẬT: Thị trường KH&CN nước ta vẫn đang ở dạng sơ khai, còn tồn tại nhiều rào cản, vướng mắc cần tháo gỡ - Ảnh 1.

Ông Andrew Goledzinowski, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Australia tại Việt Nam: Thông qua đổi mới sáng tạo, Việt Nam có thể trở nên giàu có thịnh vượng. Ảnh VGP/Nhật Bắc

Ông Andrew Goledzinowski, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Australia tại Việt Nam: Hội nghị ngày hôm nay chính là phản ánh lời kêu gọi của Thủ tướng về tầm quan trọng và đóng góp của KHCN trong việc giải quyết những vấn đề thách thức về kinh tế-xã hội.

Chúng ta đang có một lĩnh vực mới quan trọng trong hợp tác giữa Việt Nam và Australia song song với 3 trụ cột trong quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước. Năm ngoái, tại COP 26, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã gặp Thủ tướng Australia và đã trao đổi về việc tăng cường hợp tác trong ứng phó với biến đổi khí hậu, chuyển đổi năng lượng xanh... Chúng ta đã có chương trình hợp tác như chương trình Aus4Innovation và Thủ tướng đã chứng kiến những thành công của chương trình này trong thời gian qua.

Chúng tôi và các cơ quan liên quan có cơ hội hợp tác với Việt Nam. Một trong những đầu ra thực chất trong quan hệ hợp tác này là định hướng, hướng dẫn phương án để thương mại hóa các ý tưởng đề ra trong lĩnh vực này.

Đại sứ cho biết, theo chuyên gia của Đại sứ quán Australia, việc thương mại hóa các sản phẩm KHCN có thể đem lại những thành công. Thứ nhất, chương trình quốc gia giúp cho các nhà nghiên cứu và các doanh nghiệp tạo kết nối với nhau. Thứ hai, đưa ra những hợp tác để tăng cường quan hệ giữa các bên liên quan. Thứ ba, hỗ trợ các bên trung gian, các đơn vị chuyển giao công nghệ. Thứ 4, là nâng cao năng lực cho doanh nghiệp ứng dụng các công nghệ mới. Nhìn chung báo cáo của Bộ trưởng KHCN đã đề cập đến tất cả những vấn đề này và rõ ràng Việt Nam đã nắm rõ những việc cần phải làm.

Australia được các tổ chức uy tín đánh giá cao về giáo dục đào tạo, tuy nhiên thành quả của chúng tôi trong nghiên cứu cũng chưa phản ánh qua thương mại hóa các sản phẩm, các đầu ra kết quả nghiên cứu này.

Chia sẻ về một số ví dụ về thương mại hóa sản phẩm KHCN như bản thân wifi không dây vốn cũng là một câu chuyện thành công, là một sản phẩm được thương mại hóa bởi đội ngũ khoa học của Australia. Công nghệ polime để in tiền cũng là công nghệ được Australia thương mại hóa. Bài học ở đây là có nhân tài, có ý tưởng chưa đủ mà chúng ta phải có cả chính sách nữa. Đó chính là mục tiêu của Hội nghị này. Thông qua đổi mới sáng tạo, Việt Nam có thể trở nên giàu có thịnh vượng. 

17:18 ngày 23/09/2022

 

Cần có cơ chế để cho phép sai và phải tổ chức hoàn chỉnh thị trường

TỔNG THUẬT: Thị trường KH&CN nước ta vẫn đang ở dạng sơ khai, còn tồn tại nhiều rào cản, vướng mắc cần tháo gỡ - Ảnh 1.

Bộ trưởng Lê Minh Hoan: Cần có cơ chế để cho phép sai và phải tổ chức hoàn chỉnh thị trường KHCN. Không phải bán cái ta có mà phải bán cái thị trường cần, bán cái thị trường chưa cần, nhưng thị trường sẽ cần. Ảnh VGP/Nhật Bắc

Phát biểu tại hội nghị, ông Lê Minh Hoan, Bộ trưởng Bộ NNPTNT cho biết, với ngành nông nghiệp, theo ý kiến của các chuyên gia thì KHCN đã đóng góp khoảng 30% giá trị nói chung trong ngành nông nghiệp và 40% giá trị trong lĩnh vực giống, cây trồng. Nhưng rõ ràng, so với những kỳ vọng về việc gia tăng hàm lượng giá trị bằng KHCN thì con số này còn thấp.

Chia sẻ một câu chuyện tại Đồng Tháp, Bộ trưởng Lê Minh Hoan cho biết quê ông có một làng nghề nổi tiếng với việc nuôi cá giống, cung cấp cá giống cho cả khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.

Vừa rồi ông đã gặp một thanh niên lai tạo được cá giống và gần như các loại cá giống trong tự nhiên người này đều lai tạo được.

Bộ trưởng chia sẻ: Khi tôi động viên cậu thanh niên này thì cậu đó nói "em đã thất bại 5 lần rồi em mới làm được". Tôi mới suy nghĩ rằng nếu như việc nghiên cứu khoa học mà phải thất bại 5 lần để có thành công, nhiều khi thất bại 1 lần đã cảm thấy khó khăn rồi mà Thủ tướng cũng đã phát biểu tại Học viện nông nghiệp rồi đó là "nghiên cứu thì có thành công, có thất bại". Và có 1 câu tôi thấy rất hay đó là: "Nếu làm có thể 50% thành công, 50% thất bại nhưng nếu không làm thì thất bại hoàn toàn". Nói như vậy nhưng chúng ta phải thể chế hóa điều đó để giải phóng nguồn lực trong các nhà khoa học, để ngăn chặn tình trạng "chảy máu chất xám".

Theo Bộ trưởng: Chúng ta đang nói đến thị trường KHCN, đã nói thị trường thì ta phải xác định rõ. Kinh tế thị trường phải trả lời được 3 câu hỏi: Sản xuất cái gì? Sản xuất cho ai? Sản xuất như thế nào?. Tôi coi nghiên cứu khoa học cũng là 1 sản phẩm thì chúng ta phải "bán cái thị trường cần, không phải là bán cái chúng ta có".

Và chúng ta nâng lên cấp độ nữa là "bán cái thị trường chưa cần nhưng mà thị trường sẽ cần", chúng ta dùng điện thoại Iphone chúng ta cũng thấy, họ sản xuất ra những thứ thị trường sẽ cần.

Ví dụ như với thị trường bất động sản, trước khi hình thành thị trường bất động sản thì có nhà đầu tư tài chính. Đầu tư tài chính không có nghĩa là tiền, mà nhà đầu tư tài chính sẽ cân nhắc thị trường. Chúng ta đang thiếu hoàn toàn nhà môi giới. Bản chất thị trường là trăm người bán chỉ có 1 người mua, có những người có sẵn mà không biết nơi nào cần. Khi chúng ta nghiên cứu khoa học ra sản phẩm rồi thì ta lại không biết kinh doanh.

Bộ trưởng cho rằng cần hình thành những trung tâm chuyển giao của Nhà nước thực sự hoạt động theo thị trường. Thị trường còn rất nhiều vấn đề như quảng bá, hậu mãi nữa…. đây là những điều mà các nhà khoa học chưa làm được.

Bộ trưởng Lê Minh Hoan đề nghị 2 vấn đề: Một là cần có cơ chế để cho phép sai.

Hai là phải tổ chức hoàn chỉnh thị trường. Ví như thị trường bất động sản còn cần nhà phân phối nữa, do đó thị trường KHCN cũng cần có sự kết nối từ đầu cung đến cầu cho sản phẩm.

17:08 ngày 23/09/2022

 

WB cam kết hỗ trợ thúc đẩy sự phát triển KHCN ở Việt Nam

TỔNG THUẬT: Thị trường KH&CN nước ta vẫn đang ở dạng sơ khai, còn tồn tại nhiều rào cản, vướng mắc cần tháo gỡ - Ảnh 1.

Đại diện Ngân hàng Thế giới (WB) trình bày kinh nghiệm quốc tế và một số kiến nghị cho Việt Nam nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững dựa trên KHCN và đổi mới sáng tạo. Ảnh VGP/Nhật Bắc

Theo đại diện WB, để duy trì hiệu quả kinh tế thì Việt Nam cần không ngừng đổi mới sáng tạo. Đổi mới sáng tạo là cách để duy trì, đẩy mạnh năng suất. Các nước cần có phản ứng kịp thời với sự tiến bộ của KHCN vì nó sẽ ảnh hưởng đến các hoạt động sản xuất, chế tạo. Các nước cũng phải ứng phó với biến đổi khí hậu và đặc biệt là thông qua đổi mới sáng tạo, cũng như là có những phương pháp sản xuất mang tính xanh hơn, bền vững hơn.

Có rất nhiều thách thức mà các nước cũng đang phải đối mặt và Việt Nam thì cơ cấu chính sách chưa được thống nhất một cách tối ưu. Hiện nay chưa có nhiều chính sách để thúc đẩy công ty khởi nghiệp sáng tạo, mới có thúc đẩy các hoạt động nghiên cứu phát triển và rất nhiều chương trình hỗ trợ chưa có sự kết nối, vẫn còn rời rạc.

Hầu như chưa có doanh nghiệp tiên phong nào trong lĩnh vực công nghệ và tôi hiểu là Việt Nam cũng rất tham vọng để có thể nắm bắt cơ hội từ cách mạng 4.0. Tuy nhiên, hiện nay có rất nhiều doanh nghiệp chưa đạt tiêu chuẩn 3.0 và còn rất nhiều việc để làm, việc sử dụng công nghệ chẳng hạn như các app điện thoại, sự phát triển của các công ty tỷ đô và hiện nay, các mô hình B to B cần được phát triển hơn nữa. Rất nhiều chủ doanh nghiệp chưa hiểu được lợi ích của việc tham gia mua bán, làm chủ công nghệ, họ vẫn chưa tiếp cận được công nghệ. Rất nhiều nhà đầu tư muốn đầu tư vào Việt Nam nhưng họ vẫn chưa tìm được công ty đổi mới sáng tạo.

Việt Nam cũng đưa ra các ưu đãi thuế, nhưng Việt Nam có thể làm nhiều hơn nữa để có thể thúc đẩy sự phát triển của thị trường KHCN. Tôi nghĩ có những chương trình toàn cầu mà Việt Nam có thể xem xét tham gia.

Nếu chúng ta nói đến quy mô của nền kinh tế thì chúng tôi thấy rằng các chương trình hỗ trợ còn chưa nhiều và chưa nhiều lợi ích, cũng cần phải triển khai ở quy mô lớn hơn. Hiện nay Việt Nam đang ở nhóm 2, nhóm ở tầm trung bình liên quan tới năng lực áp dụng công nghệ.

Liên quan đến chính sách, chúng tôi xin có một số khuyến nghị chính sách mà chúng tôi thu thập được.

Thứ nhất là tái cân bằng các chính sách đổi mới. Tôi hiểu rằng hiện nay Việt Nam vẫn đang khuyến khích những hoạt động nghiên cứu phát triển, vì vậy cũng cần phải khuyến khích ứng dụng công nghệ có sẵn và quý vị cũng có thể xem xét xử lý các rào cản, chẳng hạn liên quan tới những quy định trong lĩnh vực công nghệ tài chính và chúng tôi thấy đã có những chương trình hỗ trợ kỹ thuật, rồi các chính sách ưu đãi thuế đã có những yếu tố, cấu phần đã tốt rồi, tuy nhiên Việt Nam cần tiếp tục tìm cách hỗ trợ phát triển thông qua các công cụ khác nhau và tăng cường huy động vốn cho hoạt động đổi mới sáng tạo, tiếp cận thị trường rất quan trọng. Có những cách để huy động vốn từ khu vực tư nhân và cần phải có những chương trình hỗ trợ để có thể gia tăng sự hấp dẫn của doanh nghiệp đối với các nhà đầu tư.

Có thể xem xét những cách để có thể hỗ trợ cho "vườn ươm". Việt Nam không cần tăng "vườn ươm" mới nhưng cần hỗ trợ cho các "vườn ươm" đã có sẵn để có thể gia tăng chất lượng của mình cũng như đầu ra của mình và chúng tôi cũng nói qua kinh nghiệm ở Kenya. Kenya đã áp dụng các chính sách tương tự để kêu gọi đầu tư cho một số ngành nghề quan trọng và quý vị cần xem xét đến các chương trình khuyến khích khởi nghiệp và có thể gia tăng lợi ích từ việc tiếp cận các chương trình vì tiềm năng rất lớn, số công ty khởi nghiệp cũng rất nhiều.

Cần có những hệ thống đánh giá phù hợp và cũng cần đánh giá nhu cầu của Việt Nam trong việc liên quan đến đổi mới sáng tạo. Có nghĩa Việt Nam cần phát triển các tài sản cần thiết như hạ tầng cơ sở dữ liệu số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn. Việt Nam cần đầu tư nhiều hơn nữa vào tài sản quan trọng này.

Ngân hàng Thế giới cam kết hỗ trợ Việt Nam để có thể thúc đẩy sự phát triển KHCN ở Việt Nam.

16:47 ngày 23/09/2022

 

Phải luật hóa cơ chế "chấp nhận thất bại" trong KHCN

TỔNG THUẬT: Thị trường KH&CN nước ta vẫn đang ở dạng sơ khai, còn tồn tại nhiều rào cản, vướng mắc cần tháo gỡ - Ảnh 1.

Bà Ramla Khalidi, Trưởng Đại diện Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc tại Việt Nam (UNDP). Ảnh VGP/Nhật Bắc

Phát biểu tại hội nghị, bà Ramla Khalidi, Trưởng Đại diện Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc tại Việt Nam (UNDP) cho rằng, Việt Nam đã có nhiều thành tựu trong phát triển khoa học công nghệ; có tham vọng trở thành nước có thu nhập cao vào năm 2045 và có nền kinh tế dựa trên tri thức. Việt Nam cũng đạt nhiều thành tựu phát triển kinh tế lớn với tốc độ phát triển kinh tế nhanh, trung bình 7,8%/năm; có nhiều tiến triển trong triển khai các mục tiêu phát triển bền vững.

Hiện nay, chúng ta đang sống trong kỷ nguyên có nhiều biến động về kinh tế, chính trị, người dân trên khắp thế giới đang chịu ảnh hưởng do những vấn đề như nóng lên toàn cầu, những ảnh hưởng của khí quyển…

Theo đó, khoa học công nghệ có thể có phương án giải quyết vấn đề này như giảm chi phí, đưa mô hình tuần hoàn vào sản xuất và tiêu dùng, công nghệ về nông nghiệp có thể giúp chúng ta sản xuất thực phẩm rẻ hơn và ít ảnh hưởng của môi trường…

Xây dựng được môi trường pháp lý có thể hỗ trợ và khuyến khích đổi mới sáng tạo đang là thách thức lớn dù ở Việt Nam hay bất kỳ nước nào khác. Để đạt được chính sách nhất quán, có rất nhiều cơ quan đang tham gia xây dựng chính sách khoa học công nghệ, tuy nhiên đôi khi quy định còn chồng lấn. Những thách thức này có thể cản trở đổi mới sáng tạo để đưa ra sáng kiến mới cho thị trường.

Vì vậy, chúng ta có thể thí điểm một số chính sách song song với quy định hiện hành. Ví dụ UNDP đã thí điểm áp dụng tại Đà Nẵng trong xây dựng Chính phủ điện tử. Chúng ta có thể áp dụng mô hình tương tự trong phát triển thị trường khoa học công nghệ.

Tuy nhiên, đổi mới sáng tạo không chỉ giới hạn trong công ty, tập đoàn lớn mà còn ở góc độ địa phương hay cơ sở. Trong thời điểm đại dịch COVID-19, chúng ta đã có nhiều phát minh, đổi mới sáng tạo ở cấp cơ sở như: Cây "ATM gạo", sử dụng công nghệ robot. Công ty Công nghệ sinh học Minh Hồng được UNDP hỗ ứng dụng công nghệ sinh học biến rác hữu cơ thành các sản phẩm dọn dẹp nhà cửa. Hiện công ty này đã xử lý được 509 tấn rác thải, sản xuất được hơn 50 nghìn lít sản phẩm phục vụ dọn dẹp nhà cửa, tạo ra thêm việc làm cho hơn 400 phụ nữ.

Tôi hiểu ở Việt Nam có câu nói "thất bại là mẹ thành công", có nghĩa chúng ta chấp nhận thất bại và học hỏi thất bại để có tiền đề của thành công. Tinh thần này nên được thể chế hóa và khuyến khích ở tất cả các cấp độ.

UNDP đang hợp tác chặt chẽ với Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia cùng nhiều đơn vị khác và sẽ tiếp tục hỗ trợ Việt Nam trong tương lại.  

Chính phủ Việt Nam đã có cam kết mạnh mẽ về thúc đẩy phát triển thị trường khoa học công nghệ trong nước, hy vọng cuộc chuyển đổi này sẽ đóng góp cho tương lai xanh bền vững cho người dân.

16:40 ngày 23/09/2022

 

Cần tạo chính sách để khuyến khích chuyển giao công nghệ

TỔNG THUẬT: Thị trường KH&CN nước ta vẫn đang ở dạng sơ khai, còn tồn tại nhiều rào cản, vướng mắc cần tháo gỡ - Ảnh 1.

Ông Choi Joo Ho, Tổng Giám đốc Tổ hợp Samsung Việt Nam. Ảnh VGP/Nhật Bắc

Ông Choi Joo Ho, Tổng Giám đốc Tổ hợp Samsung Việt Nam cho rằng, chuyển giao công nghệ là vấn đề quan trọng trong nền kinh tế đang nổi lên như Việt Nam. Do đó, cần phải hiểu rõ, chuyển giao cái gì, chuyển giao cho ai, lợi ích gắn liền với việc chuyển giao như thế nào.

Ông cho biết, Samsung đã hợp tác chặt chẽ với Bộ Công Thương Việt Nam để có thể tổ chức các chương trình hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong việc nâng cao năng lực quản trị, giúp các công ty nâng cao chất lượng sản phẩm thông qua việc hoàn thiện quy trình sản xuất, giảm thiểu tỉ lệ lỗi, qua đó giúp doanh nghiệp giảm chi phí, tăng cao lợi nhuận.

Số lượng doanh nghiệp Việt Nam là nhà cung ứng cấp 1 của Samsung gia tăng mạnh mẽ. Từ 4 doanh nghiệp vào năm 2014, hiện đã có 51 doanh nghiệp, tăng hơn 12 lần.

Từ năm 2015, Samsung đã tổ chức các chương trình tư vấn cải tiến năng suất lao động và chất lượng sản phẩm do các chuyên gia Hàn Quốc trực tiếp hướng dẫn, để giúp các doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực sản xuất và khả năng cạnh tranh.

Thông qua chương trình này đã có 379 doanh nghiệp được tư vấn và họ đã ghi nhận mức độ cải tiến năng suất gia tăng đáng kể, trung bình tăng hơn 39%, cải tiến hơn 52% lỗi chất lượng, giảm hơn 36% lượng hàng hóa tồn kho…

Hiện cũng có rất nhiều công ty Việt Nam tham gia chuỗi cung cấp của Samsung, với sự hỗ trợ của Samsung Hàn Quốc, Samsung Việt Nam cũng đã giới thiệu chương trình đào tạo ở Việt Nam.

Năm 2019, Samsung Việt Nam cũng đã ký bản ghi nhớ với Bộ Công Thương Việt Nam về chương trình hợp tác đào tạo chuyên gia tư vấn Việt Nam trong lĩnh vực cải tiến sản xuất và nâng cao chất lượng. Samsung đã đào tạo cho 200 người trong vòng 4 năm, đến nay đã có hơn 100 học viên hoàn thiện khóa học này, vậy nên Samsung sẽ sớm ký kết bản ghi nhớ nữa trong năm nay với Bộ Công Thương Việt Nam để có thể hỗ trợ cho sự phát triển công nghiệp của Việt Nam.

Samsung cũng sẽ tiếp tục triển khai dự án về nhà máy thông minh của Samsung, đồng thời sẽ hợp tác với nhiều công ty của Việt Nam hơn nữa.

Samsung cũng sẽ cam kết sẽ hỗ trợ nỗ lực của Việt Nam để trở thành một trung tâm của khu vực về khoa học và công nghệ, vì vậy chuyển giao công nghệ một cách hiệu quả là rất cần thiết.

Thứ nhất, Chính phủ và các địa phương cần tạo chính sách để khuyến khích chuyển giao công nghệ. Chính phủ Việt Nam cần có ưu đãi cho các công ty đầu tư vào ngành công nghệ cao, các chính sách của Việt Nam cũng cần phải nỗ lực để khuyến khích đổi mới sáng tạo.

Để có thể thúc đẩy các hoạt động nghiên cứu phát triển, các viện nghiên cứu cần được trao cơ hội để họ có thể tiếp tục phát triển chuyên môn của mình cũng như học hỏi các bài học, lỗi lầm trong quá khứ.

"Việt Nam cần hỗ trợ nhiều hơn nữa để có thể tham gia vào trong chuỗi cung ứng toàn cầu của Samsung, chúng tôi cũng tiếp tục cam kết hợp tác với Chính phủ Việt Nam vì lợi ích chung của cả hai bên", đại diện Samsung nhấn mạnh.

16:29 ngày 23/09/2022

 

Đơn giản hóa các thủ tục, rút ngắn thời gian hậu kiểm các giải pháp KHCN để nhanh chóng đưa vào sản xuất

TỔNG THUẬT: Thị trường KH&CN nước ta vẫn đang ở dạng sơ khai, còn tồn tại nhiều rào cản, vướng mắc cần tháo gỡ - Ảnh 1.

Ông Phạm Văn Tài, Tổng Giám đốc Trường Hải Thaco. Ảnh VGP/Nhật Bắc

Phát biểu tại hội nghị, ông Phạm Văn Tài, Tổng Giám đốc Trường Hải Thaco cho biết, Thaco Trường Hải thành lập năm 1997 khởi đầu là doanh nghiệp sản xuất kinh doanh ô tô đến nay Thaco đã phát triển thành tập đoàn đa ngành như: ô tô, cơ khí và công nghiệp hỗ trợ, nông nghiệp, logistic, thương mại dịch vụ và đầu tư xây dựng… thực hiện sứ mệnh mang lại giá trị cho khách hàng, đối tác, xã hội và phát triển kinh tế đất nước với tinh thần tận tâm phục vụ.

Xác định ứng dụng KHCN trong sản xuất là xu thế tất yếu thúc đẩy tăng năng suất, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng năng lực cạnh tranh, tối ưu hóa kinh phí vận hành trong sản xuất kinh doanh, Thaco đã ứng dụng công nghệ kĩ thuật và số hóa một cách phù hợp với quy mô, trình độ sản xuất với lộ trình nhanh và hợp lý với xu thế thị trường trong và ngoài nước.

Thaco luôn xác định đổi mới và nâng cấp công nghệ là điều kiện tiên quyết để nâng cao chất lượng sản phẩm và gia tăng năng lực cạnh tranh. Công nghệ chính là đòn bẩy quan trọng tạo động lực phát triển cho ngành sản xuất ô tô, phụ tùng của Thaco đáp ứng nhu cầu thị trường.

Về hoạt động khoa học công nghệ và kĩ thuật của Thaco bao gồm 4 hoạt động chính:

Hoạt động nghiên cứu và phát triển sản phẩm với hơn 1.500 kỹ sư tập trung phát triển các sản phẩm mới theo xu thế xe tiết kiệm nhiên liệu;

Hoạt động chuyển giao công nghệ từ đối tác nước ngoài, các kỹ sư Thaco sẽ từng bước tiếp nhận chuyển giao công nghệ mới và nắm bắt công nghệ;

Hoạt động sáng chế, cải tiến kĩ thuật công nghệ hướng tới tăng năng suất, giảm chi phí cho sản xuất.

Cuối cùng là hoạt động triển khai các đề án, đề tài khoa học cấp Nhà nước, Thaco đã phối hợp với Bộ KHCN triển khai các dự án nghiên cứu và ứng dụng KHCN trong sản xuất, gia tăng hàm lượng công nghệ trong sản phẩm, tạo hiệu ứng lan tỏa lớn, thúc đẩy hoạt động sản xuất thông minh tại Nhà máy Thaco Chu Lai. Điển hình là dự án KHCN cấp quốc gia Nghiên cứu thiết kế chế tạo xe khách cao cấp mang thương hiệu Việt nam và Dự án tự động hóa quá trình sản xuất nhíp ô tô theo hướng xây dựng nhà máy thông minh.

Về hoạt động KHCN số hóa, Thaco đã tiến hành đầu tư và đưa vào vận hành các nhà máy thông minh theo các cấp độ và đưa toàn bộ khu công nghiệp từng bước quản trị theo hướng số hoá, đàm phán với các đối tác công nghệ nghiên cứu nền tảng kĩ thuật số trên toàn hệ thống. Đầu tư mua mới, chỉnh sửa và tự sản xuất các nền tảng số riêng để phục vụ sản xuất kinh doanh của THACO.

Với dân số 100 triệu người, Việt Nam hiện đang là thị trường ô tô tiềm năng hàng đầu ASEAN tuy nhiên so với các nước trong khu vực phát triển công nghiệp sản xuất ô tô Việt Nam thiệt thòi là đã phải hội nhập khi thị trường chưa đủ lớn để tổ sức sản xuất kinh doanh quy mô lớn với giá thành cạnh tranh.

Từ năm 2018 khi Việt Nam hội nhập ASEAN, lượng ô tô nguyên chiếc nhập khẩu về Việt Nam ngày càng tăng, sản lượng ô tô nhập khẩu từ năm 2019 đến nay gấp đôi lượng ô tô nhập khẩu những năm trước đó. Hầu hết các công ty nước ngoài trong hiệp hội VAMA mặc dù đã đầu tư nhà máy tại việt nam từ rất lâu nhưng lượng xe nhập khẩu vẫn chiếm tỷ trọng lớn, thậm chí tới 80, 90% tổng lượng xe bán ra, cùng với đó là rất nhiều hãng xe của Hiệp hội VIVA cũng nhập khẩu 100% xe nguyên chiếc và các hãng xe đều đang gia tăng xe nhập khẩu vào Việt Nam.

Làm sao để nâng cao năng lực cạnh tranh của xe sản xuất lắp ráp trong nước, cạnh tranh được với xe nhập khẩu nhằm duy trì và phát triển sản xuất trong nước một cách bền vững, Thaco xin đề xuất:

Về chính sách chung cho ngành công nghiệp ô tô, Thaco đề nghị phải xây dựng và bảo vệ thị trường ô tô trong nước phát triển một cách ổn định, hợp lý và phù hợp với các quy định quốc tế.

Hiện nay, với thị trường ô tô ngày càng phát triển, cùng với sự tiến bộ của khoa học và công nghệ sản xuất ô tô trên thế giới, đặc biệt là đối với các dòng xe du lịch cao cấp, xe điện hóa vốn yêu cầu các vật liệu mới và công nghệ sản xuất mới,… Đề nghị Chính phủ và các Bộ, ngành rà soát toàn bộ các chính sách, kể cả các chính sách mới như: chính sách ưu đãi thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế linh kiện đặc biệt cũng như tính hợp lý của các quy định hiện hành. Ví dụ như chính sách hoàn thuế linh kiện phụ tùng chưa được sản xuất trong nước để sản xuất ô tô thì phải đảm bảo sản lượng chung và sản lượng riêng tối thiểu mới được hoàn thuế trong khi xe nguyên chiếc nhập khẩu từ ASEAN dù là 1 chiếc cũng được hưởng thuế suất 0%.

Vừa qua Bộ KHCN đã rà soát, bãi bỏ một số quy định trong Quyết định số 28/2004/QĐ-BKHCN ngày 01/10/2004 về phương pháp xác định tỷ lệ nội địa hóa đối với ô tô. Việc bãi bỏ các quy định này được cho là phù hợp với sự phát triển, thay đổi quy trình công nghệ sản xuất, lắp ráp ô tô của các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô tại Việt Nam.

Thaco cũng đề nghị Bộ KHCN đơn giản hóa các thủ tục xem xét, rút ngắn thời gian hậu kiểm các giải pháp KHCN để nhanh chóng đưa vào sản xuất, gia tăng thị trường, đây là chìa khóa giảm giá thành, gia tăng hàm lượng công nghệ và tạo ra sản phẩm có tính khác biệt.

16:04 ngày 23/09/2022

 

Bên cạnh những kết quả đạt được, thị trường KHCN vẫn tồn tại nghịch lý

TỔNG THUẬT: Thị trường KH&CN nước ta vẫn đang ở dạng sơ khai, còn tồn tại nhiều rào cản, vướng mắc cần tháo gỡ - Ảnh 1.

PGS.TS Nguyễn Văn Tâm, Phó Giám đốc Đại học Quốc gia TPHCM. Ảnh VGP/Nhật Bắc

PGS.TS Nguyễn Văn Tâm, Phó Giám đốc Đại học Quốc gia TPHCM cho rằng: Thị trường KHCN Việt Nam được hình thành, từng bước hoàn thiện một số kết quả nhất định.

Cho rằng việc phát triển thị trường KHCN vẫn tồn tại nghịch lý bên cạnh kết quả đạt được, ông Tâm đã trình bày tham luận chủ đề "Thúc đẩy thương mại hóa, chuyển giao tri thức từ trường đại học. Kinh nghiệm quốc tế và gợi ý chính sách cho Việt Nam nhằm góp phần đề xuất một số giải pháp về xây dựng, hoàn thiện chính sách nhà nước hướng tới hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại Việt Nam".

Trường đại học đóng vai trò nền tảng để tạo ra được sản phẩm KHCN trên thị trường chuyển giao tri thức và các hoạt động trường đại học thực hiện để tương tác với cộng đồng doanh nghiệp và các tổ chức bao gồm hợp tác nghiên cứu đề tài, đầu tư lớn và tổ chức sự kiện mang tính cộng đồng, thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Tuy nhiên để thúc đẩy nghiên cứu và tạo ra sản phẩm, chuyển giao công nghệ ra thị trường thì vai trò của các bên cần được rõ ràng và đầy đủ. Nhà nước thì cần tạo ra chính sách và hành lang pháp lý dẫn dắt các trường đại học và các bên liên quan, doanh nghiệp tham gia vào quá trình hình thành ý tưởng, nghiên cứu phát triển và thương mại hóa sản phẩm.

Cơ chế tài chính cần đầu tư, tài trợ một cách đúng nghĩa vào nghiên cứu và phát triển, trường đại học thì không ngừng đổi mới sáng tạo trên nền tảng nghiên cứu khoa học để tạo ra tri thức mới cho công nghiệp.

Về tính cấp thiết để thúc đẩy thương mại hóa, kinh doanh tri thức từ trường đại học, mô hình nghiên cứu về bẫy thu nhập trung bình, năm 2009, GS Uno đã chỉ rõ điều kiện tiên quyết để một quốc gia vượt qua bẫy thu nhập trung bình chính là phát huy được năng lực đổi mới sáng tạo công nghệ, làm chủ và tạo ra được công nghệ mới.

Về kinh nghiệm quốc tế trong việc thúc đẩy thương mại hóa, chuyển giao tri thức. Thương mại hóa kết quả nghiên cứu đã, đang và sẽ là một trong những hoạt động trọng yếu về hoạt động công nghệ đối với các cơ sở giáo dục đại học quốc tế.

Theo kết quả nghiên cứu về cách thức phát triển các hoạt động KHCN đổi mới sáng tạo đối với các trường đại học quốc tế trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0, thương mại hóa kết quả nghiên cứu là một trong bốn giải pháp tất yếu, bên cạnh các giải pháp theo xu thế phát triển và quốc tế hóa, hợp tác trường đại học - doanh nghiệp, và phát triển giáo dục khởi nghiệp.

Hầu như tại các quốc gia phát triển để thúc đẩy thương mại hóa chuyển giao tri thức từ trường đại học các giải pháp về chính sách thúc đẩy đều có mẫu số chung như sau:

Thứ nhất là về nhóm chính sách liên quan đến tài chính: Cần quy định mức trần phù hợp về tỷ lệ vốn (trong spin-out) và phần phí nhận được (khi chuyển giao) của trường đại học để khuyến khích nhà đầu tư ngoài; cần thiết lập các dịch vụ về tư vấn, hội đồng đánh giá hay giao dịch theo giá trị trường, cung cấp thêm thông tin liên quan cần thiết để làm cơ sở đối sánh; trường đại học cần định hướng "kết quả nghiên cứu nhận dạng được cơ hội thương mại hóa" để được đầu tư phát triển.

Thứ hai, về nhóm chính sách liên quan đến cơ sở dữ liệu và thông tin truyền thông: Trường đại học tăng cường truyền thông về tài sản trí tuệ, tiềm năng thương mại hóa, ví dụ thông qua nền tảng môi giới; các bên cần tổ chức sự kiện xây dựng và phát triển mạng lưới hoặc thông qua các sáng kiến của nền tảng môi giới; trường đại học có quyền điều chỉnh cơ chế đánh giá cơ hội thương mại hóa dựa trên thông tin công bố, dựa trên số liệu trích dẫn, các nghiên cứu khoa học cho các trường hợp cụ thể; cần có cơ sở dữ liệu về sản phẩm KHCN để các bên liên quan có thể truy cập, tìm kiếm thông tin một cách thuận lợi nhất.

Thứ ba là về nhóm chính sách hỗ trợ từ chính các trường đại học: Trường đại học cần có quyền chủ động tìm giải pháp tăng cường lợi ích cho nhà khoa học: chia sẻ tỷ lệ phân chia lợi ích hợp lý, có chính sách về khen thưởng, ghi nhận. Trường đại học cần có chiến lược dài hạn liên quan đến thúc đẩy thương mại hóa KHCN, trong đó quyền quyết định vấn đề thương mại hóa dựa trên thỏa thuận giữa trường học và doanh nghiệp.

Nhóm chính sách thứ tư về hỗ trợ từ nhà nước, là xây dựng biểu mẫu, hướng dẫn, gói quy trình cho trường đại học và đối tác để đơn giản hóa, tăng tốc quy trình thương mại hóa. Cần xây dựng chính sách sinh viên đầu tư nghiên cứu công nghệ và đầu tư lâu dài, nhà nước thu nhận thành quả đầu tư bằng những biện pháp gián tiếp như tạo công ăn việc làm, tạo giá trị gia tăng cho xã hội qua thu thuế… Hỗ trợ trường đại học xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo với cơ sở hạ tầng mạnh hỗ trợ thành lập spin-out và đối tác nhận chuyển giao.

Một số gợi ý và đề xuất cho Việt Nam:

Thứ nhất, xem nguồn kinh phí KHCN của nhà nước là ngân sách mang tính hỗ trợ phát triển và sản phẩm KHCN là hàng hóa công ích chứ không phải là tài sản công.

Thứ hai, có ưu đãi nguồn vốn vay và thuế cho phát triển công nghệ cao, công nghệ xanh hoặc/và công nghệ cao kết hợp công nghệ xanh để thúc đẩy phát triển công nghệ lõi nội tại.

Thứ ba, ưu đãi thuế cho doanh nghiệp Việt Nam sử dụng công nghệ cao và xanh. Thực trạng hiện nay, các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào công nghệ cao đã và đang được nhiều ưu đãi đặc biệt là thuế. Việc ưu đãi thuế doanh nghiệp Việt Nam sử dụng công nghệ sẽ tạo động lực nghiên cứu, phát triển và tái đầu tư.

Thứ tư, cho phép xây dựng, triển khai triển khai đề án thí điểm chính sách đủ mạnh và xuyên suốt trong giai đoạn trung hạn nhằm tháo dỡ các rào cản, vướng mắc đang ghi nhận trong quá trình thương mại hóa kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước hiện nay. Từ đó, tiến tới khai thông chính sách nhà nước nhằm tạo động lực thương mại hóa kết quả nghiên cứu từ trường đại học mạnh mẽ hơn nữa.

Các thủ tục, quy trình hướng dẫn thực hiện của đề án thí điểm cần được triển khai một cách đồng bộ và cơ chế thí điểm đủ độ rộng để các bên tham gia có động lực và lợi ích xuyên suốt quá trình thương mại hóa kết quả nghiên cứu theo kinh nghiệm quốc tế.

Thứ năm, đẩy mạnh chính sách phát triển đại học tự chủ gắn với chuyển giao tri thức. Luật Giáo dục đại học sửa đổi 2018 đã cho phép các trường đại học được tự chủ. Tuy nhiên, việc tự chủ vẫn chưa được như mong muốn do còn nhiều vướng mắc với các quy định từ các cơ quan ban ngành khác.

Cuối cùng, cần thúc đẩy thị trường khoa học và công nghệ để tạo được động lực tăng mạnh giao dịch và giá trị hàng hoá khoa học và công nghệ, đặc biệt là giao dịch tài sản trí tuệ, giao dịch công nghệ nhập khẩu từ các nước phát triển. Do đó, cần có nền tảng quan trọng là cơ chế chính sách ưu đãi về thuế, đấu giá tài sản trí tuệ nhằm đẩy nhanh ra thị trường, chia sẻ hợp tác khai thác tài sản trí tuệ.

15:52 ngày 23/09/2022

 

PVN luôn có nhu cầu và mong muốn huy động được chất xám từ các nhà khoa học

TỔNG THUẬT: Thông qua đổi mới sáng tạo, Việt Nam có thể trở nên giàu có thịnh vượng - Ảnh 1.

Ông Lê Xuân Huyên, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam. Ảnh VGP/Nhật Bắc

Ông Lê Xuân Huyên, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam chia sẻ: Hoạt động trong một ngành công nghiệp phức tạp, nhiều rủi ro, đòi hỏi vốn đầu tư lớn và công nghệ kỹ thuật cao, các hoạt động mang tính quốc tế, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) đã xác định Khoa học Công nghệ (KHCN) và Đổi mới sáng tạo (ĐMST) là một trong những giải pháp đột phá nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất kinh doanh và sự phát triển bền vững theo chiều sâu.

Thực tiễn hoạt động nghiên cứu khoa học của PVN trong những năm qua cho thấy, các công trình nghiên cứu khoa học đã góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề quan trọng. Qua đó góp phần nâng cao tiềm lực KHCN dầu khí, làm chủ và cải tiến công nghệ, từ đó mang lại kết quả lớn cho PVN và các đơn vị thành viên.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được nói trên, năng lực và khả năng đổi mới sáng tạo của ngành dầu khí Việt Nam so với các nước trong khu vực vẫn còn khiêm tốn, chủ yếu mới ở mức độ thích nghi và hấp thụ công nghệ, một số lĩnh vực như thăm dò khai thác dầu khí đã làm chủ công nghệ tuy nhiên còn thiếu những cải tiến, sáng tạo mang tính đột phá.

Trong bối cảnh hiện tại, PVN xác định chuyển đổi từ tập đoàn dầu khí trở thành tập đoàn năng lượng công nghệ và dịch vụ công nghệ cao là nhu cầu bức thiết và tất yếu.

Chính vì thế, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam hiện đang triển khai các định hướng nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo, không chỉ đáp ứng về chiều rộng mà còn cả chiều sâu, sớm đạt được trình độ tiên tiến trong khu vực trên mọi lĩnh vực.

PVN đã triển khai chương trình nghiên cứu dài hạn như: Nghiên cứu, phát triển sản xuất và sử dụng hiệu quả Hydro; Phát triển và ứng dụng công nghệ thu hồi, tàng trữ và sử dụng C02 tại các cơ sở sản xuất của Tập đoàn; nghiên cứu về ammoniac xanh; xanh hóa các nhà máy nhiệt điện; phát triển sản xuất và ứng dụng các sản phẩm hóa chất và hóa dầu mới, vật liệu tiên tiến và nhiên liệu sạch từ các nguồn nhiên liệu trong nước, có thị trường lớn, có khả năng xuất khẩu và biên lợi nhuận cao; nghiên cứu đánh giá tác động, ảnh hưởng của các nguồn năng lượng tái tạo đến phát triển của Tập đoàn và các giải pháp ứng phó.

Là nhu cầu bức thiết và tất yếu để chuyển đổi PVN từ Tập đoàn Dầu khí trở thành Tập đoàn Năng lượng và dịch vụ công nghệ cao, PVN luôn có nhu cầu và mong muốn huy động được chất xám từ các nhà khoa học cả trong nước và quốc tế; hợp tác với Viện, trường đại học có uy tín trong nước và quốc tế để giải quyết thành công các vấn đề KHCN phục vụ cho phát triển của tập đoàn.

15:46 ngày 23/09/2022

 

TỔNG THUẬT: Thị trường KH&CN nước ta vẫn đang ở dạng sơ khai, còn tồn tại nhiều rào cản, vướng mắc cần tháo gỡ - Ảnh 1.

Ông Phan Xuân Dũng, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và kỹ thuật Việt Nam. Ảnh VGP/Nhật Bắc

Thực hiện đúng quy luật thì thị trường KH&CN sẽ phát triển

Ông Phan Xuân Dũng, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và kỹ thuật Việt Nam khẳng định khoa học công nghệ có vai trò vô cùng quan trọng với việc khẳng định vị trí và sự phát triển của một quốc gia. Việt Nam đã có rất nhiều chủ trương phát triển đất nước bằng khoa học công nghệ. Hội thảo tổ chức hôm nay do Thủ tướng Chính phủ chủ trì là rất quan trọng trong phát triển chủ trương về khoa học công nghệ.

Trước hết, chúng ta phải hiểu rõ về bản chất của thị trường khoa học công nghệ có 3 vế: Cung - Cầu và công cụ kết nối giữa Cung và Cầu là Môi trường.

Về phía cung, lịch sử đã khẳng định người Việt Nam đủ sức làm và làm tốt trong việc tạo ra các sản phẩm khoa học công nghệ để tạo ra sản phẩm cho thị trường. Tức là nguồn cung sản phẩm khoa học công nghệ là rất lớn. Nhưng việc chuyển giao công nghệ phải hiểu rộng hơn, bao gồm cả ý tưởng công nghệ và sản phẩm đi cùng công nghệ.

Về phía cầu, nhu cầu sản phẩm khoa học công nghệ rất lớn. Đảng ta đã xác định phát triển dựa vào khoa học và công nghệ.

Các vế Cung - Cầu và Môi trường đều có. Vậy câu hỏi đặt ra tại sao thị trường khoa học công nghệ chưa phát triển? Tôi cho rằng phải thực hiện đúng quy luật thì thị trường sẽ phát triển.

Do đó, phải có chính sách phù hợp để thúc đẩy cung sản phẩm khoa học công nghệ, điều này đòi hỏi người làm chính sách phải hiểu cặn kẽ về công nghệ.

Thứ hai, phải có nguồn nhân lực, đồng thời chúng ta phải tin tưởng đội ngũ khoa học công nghệ, có hình thức tôn vinh phù hợp.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp nước ngoài rất quan trọng, nhưng để phát triển thị trường khoa học công nghệ, phải quan tâm phát triển các doanh nghiệp trong nước, doanh nghiệp dân tộc bởi các doanh nghiệp trong nước đóng góp rất lớn về mọi mặt, kể cả về ngân sách.

15:17 ngày 23/09/2022

Các nhà khoa học còn chưa mạnh dạn dấn thân vào con đường thương mại hóa và các kết quả nghiên cứu vẫn chưa được đưa vào thực tế ứng dụng

TỔNG THUẬT: Thị trường KH&CN nước ta vẫn đang ở dạng sơ khai, còn tồn tại nhiều rào cản, vướng mắc cần tháo gỡ - Ảnh 1.

GS.TS Châu Văn Minh, Chủ tịch Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam. Ảnh VGP/Nhật Bắc

GS.TS Châu Văn Minh, Chủ tịch Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam cho biết: Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (Viện Hàn lâm) là cơ quan thuộc Chính phủ, thực hiện chức năng nghiên cứu cơ bản về khoa học tự nhiên và phát triển công nghệ; cung cấp luận cứ cho công tác quản lý khoa học, công nghệ và xây dựng chính sách, chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế, xã hội; đào tạo nhân lực khoa học công nghệ trình độ cao cho đất nước.

Nhằm thúc đẩy việc thương mại hoá kết quả nghiên cứu và tài sản trí tuệ, Viện Hàn lâm đã ban hành 4 chương trình ứng dụng và triển khai công nghệ: 1) Chương trình Phát triển công nghệ với yêu cầu sản phẩm đầu ra là: Các sáng chế, giải pháp hữu ích được Cục Sở hữu trí tuệ cấp bằng; 2) Dự án sản xuất thử nghiệm với đầu ra là quy trình công nghệ được thử nghiệm ở quy mô pilot (hợp tác với doanh nghiệp); 3) Chương trình phát triển sản phẩm thương mại với sản phẩm đầu ra là các sản phẩm được cấp phép bởi cơ quan quản lý và được thương mại hoá; 4) các Đề tài dự án hợp tác bộ ngành, địa phương để giải quyết các vấn đề cấp bách do các bộ, ngành địa phương đặt hàng.

Các chương trình này hỗ trợ nhà khoa học nghiên cứu giải quyết các vấn đề, thách thức của doanh nghiệp, bộ, ngành, địa phương. Viện Hàn lâm đã xây dựng Giải thưởng Trần Đại Nghĩa nhằm tôn vinh các nhà khoa học có công trình nghiên cứu xuất sắc và trực tiếp triển khai ứng dụng đem lại hiệu quả phát triển kinh tế-xã hội.

Trong những năm qua, bên cạnh thành tích về công bố khoa học trên các tạp chí quốc tế uy tín, Viện Hàn lâm luôn đứng đầu về số bằng sáng chế và giải pháp hữu ích và chiếm tỉ lệ lớn của Việt Nam, có khoảng 40-50 sáng chế và giải pháp hữu ích được cấp bằng hàng năm. Đặc biệt, trong năm 2021, các đơn vị trực thuộc Viện Hàn lâm đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp 63 bằng độc quyền sáng chế và giải pháp hữu ích chiếm gần 20% thị phần về Sáng chế và Giải pháp hữu ích tại Việt Nam do người Việt Nam là chủ bằng.

Nhiều nghiên cứu ứng dụng công nghệ cao đã được triển khai tại Viện... Trong 10 năm qua, các đơn vị của Viện Hàn Lâm đã chuyển giao 120 sản phẩm, công nghệ cho các doanh nghiệp, địa phương và hiện nay đã có gần hơn 250 công nghệ có thể giới thiệu với doanh nghiệp để chuyển giao.

Đặc biệt liên tục trong 2 năm 2020 và 2021, Viện Hàn lâm được nhận giải thưởng "Dẫn đầu đổi mới sáng tạo khu vực Nam Á và Đông Nam Á" (hạng mục tổ chức nghiên cứu Chính phủ) của tổ chức cơ sở dữ liệu khoa học hàng đầu thế giới Clarivate, Vương Quốc Anh.

Có thể thấy với việc Trung ương ban hành Nghị quyết 20 về KH&CN và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực chuyển giao công nghệ, cùng với sự nỗ lực, cố gắng thì Viện Hàn lâm đã đạt được nhiều kết quả tích cực.

Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng và đã đạt được một số kết quả ứng dụng nổi bật, có nhiều công nghệ đã sẵn sàng chuyển giao, nhưng Viện vẫn chưa thể phát huy hết thế mạnh của mình trong công tác ứng dụng và thương mại hóa tài sản trí tuệ của Viện vì còn gặp nhiều khó khăn, thách thức. Từ thực tiễn hoạt động của Viện chúng tôi có thể chia các thách thức thành 3 nhóm như sau:

Một là khó khăn thách thức từ nhà khoa học: Thực tiễn nhà khoa học chỉ có 2 lựa chọn để thương mại hóa được kết quả nghiên cứu KH&CN của mình. Một là chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp. Hai là tự mình khởi nghiệp. Đa số các nhà khoa học lựa chọn phương án chuyển giao công nghệ hoặc giao lại cho tổ chức chủ trì để chuyển giao mà không chọn phương án tự mình khởi nghiệp do bản chất của các nhà khoa học là đam mê nghiên cứu khám phá các vấn đề mới và không có đủ năng lực, kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh doanh nên không đủ tự tin để thực hiện.

Về chủ trương chung, Nhà nước ta rất khuyến khích phát triển doanh nghiệp đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, đặc thù của loại hình này có tính rủi ro cao (thường chỉ 3-5% thành công), có thể không thành công nhiều lần và thông thường gắn chặt với tác giả tạo ra công nghệ. Sau khi thất bại, các nhà khoa học này rất khó có thể quay trở lại con đường nghiên cứu khoa học của mình vì nhiều lý do khác nhau.

Trong khi đó, hiện nay chưa có chính sách đảm bảo việc sử dụng các nhà khoa học khi triển khai doanh nghiệp đổi mới sáng tạo không thành công.

Chính vì vậy các nhà khoa học còn chưa mạnh dạn dấn thân vào con đường thương mại hóa và các kết quả nghiên cứu vẫn chưa được đưa vào thực tế ứng dụng.

Thứ hai là thách thức từ phía doanh nghiệp: Qua thực tiễn, chúng tôi nhận thấy các doanh nghiệp trong nước khi đến làm việc thường chỉ quan tâm công nghệ đã hoàn thiện và sẵn sàng đưa vào sản xuất mà ít quan tâm mua công nghệ quy mô phòng thí nghiệm, quy mô pilot để tiếp tục đầu tư phát triển vì có nhiều rủi ro. Trong khi với cơ sở vật chất của Viện Hàn lâm nói riêng và của các đơn vị nghiên cứu trong cả nước nói chung hiện nay khó có thể tạo ra công nghệ sẵn sàng ở quy mô sản xuất lớn để chuyển giao.

Chưa có nhiều doanh nghiệp đầu tư kinh phí chủ động đặt hàng các nhà khoa học, cơ quan nghiên cứu trong nước giải quyết vấn đề cụ thể của doanh nghiệp vì e ngại rủi ro và thiếu thông tin.

Một số doanh nghiệp chưa thực sự tin tưởng vào các công nghệ được tạo ra từ các nhà khoa học và các cơ quan nghiên cứu trong nước mà vẫn lựa chọn mua công nghệ nước ngoài.

Các thông tin giới thiệu về các sản phẩm công nghệ của các nhà khoa học và cơ quan nghiên cứu trong nước với doanh nghiệp còn hạn chế do cơ sở dữ liệu khá rời rạc và chưa đồng bộ.

Các tổ chức trung gian làm cầu nối cho các nhà khoa học và doanh nghiệp còn yếu về năng lực, thiếu sự hỗ trợ về cơ chế chính sách nên khả năng hỗ trợ thương mại hoá còn hạn chế, đồng thời thiếu sự liên kết với mạng lưới trong khu vực và quốc tế.

Thứ ba là những hạn chế, thách thức từ các cơ quan quản lý: Tôi thống nhất rất cao với các phát biểu của đồng chí Bộ trưởng Bộ KHCN đánh giá về các hạn chế và các điểm nghẽn của thị trường KH&CN hiện nay.

Xuất phát từ thực tiễn hoạt động của Viện Hàn lâm, chúng tôi xin nêu ra 4 điểm cụ thể như sau:

Một là: Kết quả nhiệm vụ khoa học công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước được hướng dẫn xử lý chưa thống nhất. Ví dụ: Kết quả nếu không đăng ký sở hữu trí tuệ (SHTT) thì theo Luật Quản lý, sử dụng tài sản công 2017, trường hợp nhiệm vụ sử dụng 100% ngân sách thì lợi nhuận toàn bộ sẽ thuộc nhà nước. Đối với kết quả được bảo hộ SHTT thì thực hiện theo Luật Sở hữu trí tuệ 2022, trong đó quy định nhà khoa học được hưởng từ 15% đến 20% lợi nhuận khi thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Trong khi đó Luật KH&CN 2013 lại quy định nhà khoa học được hưởng tối thiểu 30% lợi nhuận khi thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Có thể thấy các quy định không thống nhất này dẫn đến khó áp dụng trong thực tế.

Hai là: Việc định giá tài sản hình thành từ kết quả nghiên cứu KH&CN theo Luật giá 2012 và Nghị định 70/2018/NĐ-CP khó thực hiện ngay cả đối với các đơn vị có chức năng thẩm định gây khó khăn trong việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Thậm chí trong một số trường hợp cơ quan chủ trì và tác giả có thể bị quy trách nhiệm hình sự làm thất thoát tài sản nhà nước theo Luật Hình sự 2015.

Ba là: Một số quy định ngành chưa phù hợp gây khó khăn trong ứng dụng và triển khai kết quả nghiên cứu (VD: Theo Thông tư 35/2018/TT-BYT của Bộ Y tế hướng dẫn thực hiện Luật Dược chỉ cho phép thử nghiệm lâm sàng thuốc nguồn gốc hóa dược khi nguyên liệu được sản xuất trên dây chuyền sản xuất đạt tiêu chuẩn GMP trong khi chưa có cơ sở nghiên cứu nào đạt tiêu chuẩn này ở Việt Nam).

Bốn là: Các sản phẩm khoa học khó tham gia mua sắm công do chưa có chính sách khuyến khích, ưu tiên trong mua sắm công.

Để các kết quả nghiên cứu có thể tiếp cận nhanh chóng hơn vào thị trường và tạo điều kiện cho các nhà khoa học triển khai ứng dụng và thương mại hóa kết quả khoa học và tài sản trí tuệ, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam xin đề xuất 5 kiến nghị cụ thể như sau:

1. Đề nghị các cơ quan quản lí nhà nước rà soát, điều chỉnh thống nhất các quy định, văn bản pháp lý liên quan thương mại hóa kết quả nghiên cứu, tài sản trí tuệ như: Luật Khoa học và Công nghệ, Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, Luật Sở hữu trí tuệ...

2. Xây dựng chính sách khuyến khích và bảo vệ các nhà khoa học khi được phân công quản lý, điều hành doanh nghiệp đổi mới sáng tạo.

Có chính sách cụ thể để các nhà khoa học đã tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp đổi mới sáng tạo sau 3 đến 5 năm được quay về làm việc ở Viện/ Trường, cơ quan nghiên cứu khoa học (kể cả trong trường hợp không thành công).

3. Để một sản phẩm KH&CN được đưa vào ứng dụng thực tiễn, nhà khoa học phải trải qua quá trình thực hiện nhiều bước từ ý tưởng, phê duyệt đề tài nghiên cứu, thực hiện nghiên cứu ở phòng thí nghiệm, thử nghiệm sản xuất ở quy mô pilot, sản xuất ở quy mô công nghiệp. Các hoạt động này trải qua đánh giá ở nhiều hội đồng xét duyệt, nghiệm thu và thường bị ngắt quãng. Do đó cần có chính sách đầu tư các nhiệm vụ KH&CN dài hạn gắn các nhà khoa học thực hiện đến sản phẩm công nghệ hoàn chỉnh.

4. Xây dựng cơ chế thúc đẩy hoạt động kết nối Viện/Trường với doanh nghiệp, nhằm phát hiện vấn đề, tìm kiếm giải pháp, tạo công nghệ phù hợp với doanh nghiệp, có chính sách khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp tham gia đầu tư, đặt hàng các nhiệm vụ KH&CN.

5. Có chính sách khuyến khích, ưu tiên mua thiết bị, công nghệ… là sản phẩm khoa học được tạo ra từ các nghiên cứu trong nước trong mua sắm công.

14:55 ngày 23/09/2022

 

TỔNG THUẬT: Thị trường KH&CN nước ta vẫn đang ở dạng sơ khai, còn tồn tại nhiều rào cản, vướng mắc cần tháo gỡ - Ảnh 1.

Bộ trưởng Huỳnh Thành Đạt: Thị trường KH&CN nước ta vẫn đang ở dạng sơ khai, còn tồn tại nhiều rào cản, vướng mắc cần tháo gỡ. Ảnh VGP/Nhật Bắc

Nguồn cung hàng hóa KHCN đã tăng đáng kể

Báo cáo tại hội nghị, Bộ trưởng Bộ KH&CN Huỳnh Thành Đạt cho biết: Thị trường KH&CN là một bộ phận cấu thành của thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có vai trò then chốt trong việc thúc đẩy hoạt động KH&CN và đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động, chất lượng hàng hóa, dịch vụ và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Từ năm 2011 tới nay, bộ máy quản lý nhà nước về thị trường KH&CN được hình thành và từng bước được kiện toàn từ trung ương đến địa phương cùng với nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan đã được ban hành.

Nguồn cung hàng hóa KH&CN từ các viện nghiên cứu, các đại học, trường đại học đã tăng đáng kể. Nhu cầu và năng lực tiếp cận, hấp thụ và làm chủ công nghệ mới, công nghệ tiên tiến của các DN ngày càng tăng cao và cải thiện.

Các tổ chức trung gian của thị trường KH&CN dần được hình thành, cơ sở dữ liệu quốc gia về thông tin KH&CN và nền tảng dữ liệu và dịch vụ sở hữu công nghiêp được Bộ KH&CN hỗ trợ xây dựng và hiện đang hoạt động hiệu quả. Công tác xúc tiến thị trường KH&CN tiếp tục được duy trì và đẩy mạnh.

Thị trường KH&CN ở nước ta vẫn còn đang ở dạng sơ khai

Tuy vậy, nhìn chung thị trường KH&CN ở nước ta vẫn còn đang ở dạng sơ khai, mới bước đầu hình thành và từng bước phát triển. Nguồn cung hàng hóa KH&CN trong nước còn hạn chế.

Các tổ chức trung gian, môi giới và cơ sở hạ tầng của thị trường KH&CN còn rời rạc, tự phát, chưa liên kết thành mạng lưới để hỗ trợ các dịch vụ trên thị trường.

Sự liên thông giữa thị trường KH&CN trong nước với thị trường KH&CN thế giới cũng như với với các thị trường khác ở trong nước (đặc biệt là thị trường lao động và thị trường vốn) còn hạn chế. Trong khi đó, nhu cầu đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp và của cả nền kinh tế trong giai đoạn chuyển đổi mô hình tăng trưởng hiện nay ngày càng tăng cao.

Số lượng và chất lượng nguồn cung công nghệ cũng như sự minh bạch thông tin về công nghệ và việc giảm thiểu các chi phí trong giao dịch mua bán công nghệ đang là đòi hỏi cấp bách nhằm thúc đẩy quá trình đổi mới công nghệ ở doanh nghiệp.

Thêm vào đó, các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, chưa có đủ năng lực để chủ động tìm kiếm và tiếp cận các thông tin về nguồn cung công nghệ cũng như chưa tích lũy đủ các nguồn lực (nhất là nguồn vốn và nhân lực trình độ cao) để tiếp nhập công nghệ mới, công nghệ cao.

Lần đầu tiên người đứng đầu Chính phủ chủ trì một hội nghị phát triển thị trường công nghệ

Trong bối cảnh đó, vai trò kiến tạo của Nhà nước trong việc khuyến khích sự phát triển của thị trường KH&CN nói chung và sự phát triển của các cấu phần tạo nên thị trường KH&CN nói riêng có vai trò quan trọng, tập trung vào việc khơi thông nguồn cung, gỡ bỏ các trở ngại về thông tin, giảm thiểu các chi phí giao dịch trong mua bán hàng hóa KH&CN, tạo dựng và phát triển cơ sở hạ tầng của thị trường cũng như việc hỗ trợ phát triển và chứng nhận các tổ chức thẩm định, định giá, tư vấn chuyển giao công nghệ…

Do đó, việc Thủ tướng Chính phủ quan tâm, chỉ đạo việc tổ chức Hội nghị phát triển thị trường KH&CN hôm nay có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Đây là lần đầu tiên người đứng đầu Chính phủ chủ trì một hội nghị để đánh giá hiện trạng và chỉ đạo xây dựng các giải pháp phát triển thị trường KH&CN, thể hiện sự quan tâm của Thủ tướng Chính phủ tới sự hình thành và phát triển của thị trường KH&CN nói riêng và của ngành KH&CN nói chung. 

Về cơ bản đã tạo được môi trường pháp lý cho thị trường KH&CN

Thời gian qua, việc xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển thị trường KH&CN đã được tập trung triển khai. Đến nay, các chính sách về phát triển thị trường KH&CN được quy định chủ yếu tại 4 Luật, 6 Nghị định và 12 thông tư.

Về cơ bản, đã tạo được môi trường pháp lý cho các hoạt động giao dịch, chuyển giao, thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học (NCKH), phát triển công nghệ (PTCN) và khởi nghiệp sáng tạo.

Về nguồn cung: Nguồn cung cho thị trường KH&CN hình thành từ các hoạt động động NCKH và PTCN tại các viện nghiên cứu, trường đại học, các trung tâm ươm tạo công nghệ, các DN thuộc mọi thành phần kinh tế, cũng như thông qua hoạt động nhập khẩu công nghệ, CGCN từ nước ngoài.

Hiện nay, cơ sở dữ liệu quốc gia về KH&CN có khoảng 22.500 thông tin về nguồn cung công nghệ, 365.000 thông tin về sở hữu trí tuệ.

Theo thống kê từ các sàn giao công nghệ và thiết bị đang hoạt động tại Việt Nam, số lượng nguồn cung công nghệ được thu thập và phổ biến hiện nay khoảng 77.000 bản ghi.

Tuy vậy, theo số liệu Điều tra hoạt động đổi mới sáng tạo tại các doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo do Cục Thông tin KH&CN Quốc gia tiến hành năm 2019, chỉ có khoảng 16% các doanh nghiệp coi các viện nghiên cứu, trường đại học của Việt Nam là nguồn cung cấp hàng hoá KH&CN.

Theo số liệu tổng hợp từ Tổng cục Thống kê, khoảng 75% công nghệ và thiết bị của doanh nghiệp Việt Nam có nguồn gốc từ nước ngoài, trong đó, công nghệ và thiết bị từ những nước có trình độ KH&CN phát triển như Mỹ, Hàn Quốc, Liên minh Châu Âu,… có chiều hướng tăng nhẹ trong những năm qua.

Về nguồn cầu: Nguồn cầu công nghệ của thị trường KH&CN chủ yếu đến từ các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh. Nhu cầu và cách thức đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hàng hoá KH&CN của doanh nghiệp tại Việt Nam có thể được minh hoạ qua hoạt động đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.

Trên cơ sở phân tích số liệu điều tra Đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2014-2016, cho thấy: 61,3% doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo, trong đó: 32,1% đổi mới sản phẩm; 39,9% đổi mới quy trình, công nghệ, thiết bị; 37,7% đổi mới tổ chức và quản lý và 28,6% đổi mới tiếp thị; 31% doanh nghiệp tiến hành cùng lúc từ 3-4 loại đổi mới sáng tạo. Nhu cầu đổi mới thiết bị, công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam cũng tăng nhanh trong thời gian qua.

Theo số liệu tổng hợp từ Tổng cục Thống kê và Tổng cục Hải quan, tổng chi phí mua sắm công nghệ, thiết bị, máy móc của doanh nghiệp Việt Nam năm 2020 là khoảng 1.1 triệu tỷ VNĐ (khoảng 40 tỷ USD, tăng gần 1.5 lần so với năm 2016.

Về phương thức đổi mới quy trình, công nghệ, thiết bị: đại đa số các doanh nghiệp (79,1%) lựa chọn phương thức "đầu tư vào công nghệ mới gắn liền với hàng hoá, máy móc, thiết bị" và/hoặc "nâng cấp/chỉnh sửa công nghệ, thiết bị hiện tại" là phương thức chính để đổi mới quy trình công nghệ; 7,3% thông qua ký hợp đồng lao động mới với người có kỹ năng và kinh nghiệm; 7,5% thông qua sử dụng công nghệ, thiết bị do các công ty ngoài công ty mẹ cung cấp; 5,2% thông qua sử dụng công nghệ, thiết bị do các công ty khác trong công ty mẹ cung cấp.

Về hoạt động trung gian của thị trường KH&CN: Hiện tại, cả nước có trên 800 tổ chức trung gian các loại đã được hình thành hoạt động trong thị trường này, trong đó có các sàn giao dịch công nghệ tại các địa phương; cơ sở dữ liệu quốc gia về thông tin KH&CN, nền tảng dữ liệu và dịch vụ sở hữu công nghiệp; nhiều trung tâm xúc tiến chuyển giao công nghệ, tổ chức đại diện sở hữu công nghiệp; các tổ chức thẩm định, giám định công nghệ; các cơ sở ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp KH&CN…

Bên cạnh đó, từ khi triển khai Đề án Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo quốc gia đến năm 2025 (Đề án 844), tổ chức trung gian của thị trường KH&CN đã hình thành một số mô hình mới, không chỉ hỗ trợ đánh giá, định giá, xúc tiến chuyển giao công nghệ, mà còn gắn với tư vấn gọi vốn cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, góp vốn đầu tư, thành lập doanh nghiệp bằng công nghệ.

Hiện nay nhu cầu phát triển sàn giao dịch vốn cho start-up gắn với sàn giao dịch công nghệ, hay nói cách khác là thị trường vốn đầu tư gắn với thị trường công nghệ đang phát triển ở một số thành phố lớn, theo xu hướng ở khu vực và trên thế giới.

Tính đến nay, cả nước có 79 cơ sở ươm tạo, 29 tổ chức thúc đẩy kinh doanh, khoảng 138 trường đại học/cao đẳng tổ chức về hoạt động khởi nghiệp sáng tạo, trong đó có 43 trường đại học thành lập vuờn ươm, trung tâm, câu lạc bộ hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo hỗ trợ hoạt động gọi vốn đầu tư cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo quốc gia đã đi vào hoạt động tại 3 thành phố lớn: Hà Nội, Đà Nẵng và TPHCM. Nhiều địa phương đã và đang hình thành các Trung tâm đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo của địa phương mình.

Thị trường KH&CN Việt Nam: Còn tồn tại nhiều rào cản, vướng mắc cần tháo gỡ

Với thực trạng của thị trường KH&CN như trên, nhìn tổng thể, thị trường KH&CN nước ta còn tồn tại nhiều rào cản, các vướng mắc cần tháo gỡ. Cụ thể:

Một là, hành lang pháp lý cho sự vận hành của thị trường KH&CN đã được hình thành, tuy nhiên, còn thiếu và chưa đồng bộ với các pháp luật liên quan. Chủ yếu là các quy định liên quan đến quyền tài sản và xử lý tài sản hình thành từ nhiệm vụ KH&CN; về định giá kết quả nghiên cứu, tài sản trí tuệ; về phạm vi áp dụng kết quả; về phân chia lợi nhuận thu được từ thương mại hóa; về cơ chế thành lập doanh nghiệp khởi nguồn (spin-off) trên cơ sở kết quả nghiên cứu của các đơn vị sự nghiệp công lập; về cơ chế góp vốn và tổ chức hoạt động của các doanh nghiệp khởi nguồn từ viện nghiên cứu, từ đại học, trường đại học.

Hai là, thị trường KH&CN Việt Nam phụ thuộc chủ yếu vào nguồn cung công nghệ từ các quốc gia đang phát triển, trình độ công nghệ ở mức trung bình thấp. Nguồn cung công nghệ trong nước chiếm tỷ trọng thấp, nhiều kết quả nghiên cứu của viện, trường có địa chỉ ứng dụng nhưng chưa chuyển giao được. Phần lớn các kết quả nghiên cứu dừng lại ở quy mô nhỏ hoặc trong phòng thí nghiệm, chưa sẵn sàng ứng dụng vào sản xuất, kinh doanh.

Ba là, nhu cầu ứng dụng và đổi mới công nghệ của doanh nghiệp tăng cao, nhưng khó tiếp cận với nguồn cung công nghệ có chất lượng. Năng lực hấp thụ, làm chủ công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực của DN còn thấp; nhận thức về sự cần thiết phải liên tục đổi mới công nghệ của doanh nghiệp còn hạn chế.

Bốn là, các tổ chức trung gian của thị trường KH&CN chưa được quan tâm đầu tư đúng mức. Năng lực cung cấp các dịch vụ tư vấn, môi giới, xúc tiến, chuyển giao công nghệ của tổ chức trung gian còn yếu. Thiếu các tổ chức trung gian có vai trò là đầu mối hệ thống, quy mô vùng và quốc gia nhằm cung cấp các dịch vụ có chất lượng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, đặc biệt là nhu cầu ứng dụng đổi mới công nghệ của các ngành hàng xuất khẩu chủ lực. Chưa hình thành được mạng lưới các tổ chức trung gian trong nước, kết nối với thị trường khu vực và thế giới.

7 giải pháp chủ yếu để phát triển thị trường KH&CN

Nhu cầu đổi mới công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian tới là rất lớn, trong đó, hoàn thiện thị trường KH&CN là giải pháp trung tâm, có tính căn cơ lâu dài để hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh.

Để phát triển thị trường KH&CN, Bộ KH&CN xin đề xuất triển khai một số giải pháp chủ yếu sau:

Thứ nhất, về phát triển mạng lưới tổ chức trung gian của thị trường KH&CN: Tập trung phát triển các tổ chức trung gian có vai trò đầu mối trong mạng lưới, có khả năng cung cấp các dịch vụ công có tính hệ thống; các tổ chức trung gian tại các viện nghiên cứu, các cơ sở giáo dục đại học, nhất là tại các đại học quốc gia, đại học vùng, các trường đại học trọng điểm; tại các tổ chức KH&CN lớn, liên ngành hoặc đa ngành về kỹ thuật và công nghệ; và tại các hiệp hội ngành hàng.

Khuyến khích, hỗ trợ phát triển tổ chức trung gian thuộc khu vực tư nhân, phát triển mạng lưới các tổ chức trung gian đối với các ngành hàng xuất khẩu chủ lực, trong đó cần phát huy vai trò của các hiệp hội ngành hàng và các nhà đầu tư; Tổ chức đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và hỗ trợ việc triển khai việc cấp chứng chỉ hành nghề cho các tổ chức, cá nhân tham gia các hoạt động trung gian môi giới trên thị trường KH&CN; Xây dựng, duy trì, cập nhật và phát triển cơ sở dữ liệu, cổng thông tin, trang thông tin điện tử về thị trường KH&CN.

Thứ hai, về phát triển nguồn cầu của thị trường KH&CN, nâng cao năng lực hấp thụ, làm chủ và đổi mới công nghệ của doanh nghiệp: Hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc điều tra, thống kê, đánh giá nhu cầu công nghệ, khả năng cung ứng, khai thác nguồn tài sản trí tuệ; Thực hiện các báo cáo phân tích xu hướng công nghệ; Tạo áp lực cạnh tranh trong môi trường kinh doanh để thúc đẩy DN sử dụng công nghệ, tăng năng suất lao động. Mở rộng và nâng cao hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn hài hoà với tiêu chuẩn quốc tế.

Thứ ba, về thúc đẩy phát triển nguồn cung của thị trường KH&CN: Hình thành các kênh nhập khẩu công nghệ tiên tiến, ưu tiên công nghệ từ các nước phát triển; Hỗ trợ nhập khẩu, giải mã các công nghệ cao, công nghệ tiên tiến, công nghệ sạch có giá trị nền tảng; Ưu tiên hỗ trợ thương mại hóa kết quả nghiên cứu, tài sản trí tuệ đáp ứng nhu cầu cơ giới hoá, chế biến trong nông nghiệp, phục vụ yêu cầu phát triển vùng nông thôn, miền núi, hải đảo, địa bàn có điều kiện KT-XH khó khăn, đặc biệt khó khăn; Triển khai thực hiện các dự án cụ thể nhằm thu hút và phát huy có hiệu quả nhân tài người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài tham gia hoạt động đổi mới sáng tạo và phát triển thị trường KH&CN Việt Nam.

Thứ tư, về liên thông, tiến tới đồng bộ hóa thị trường KH&CN với các thị trường hàng hóa, lao động và tài chính: Hỗ trợ các DN kịp thời nắm vững các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, thực hiện bảo hộ và khai thác tài sản trí tuệ phục vụ cho các hoạt động thương thảo, giao dịch, mua bán hàng hóa KH&CN; Hỗ trợ cung cấp thông tin cần thiết giúp doanh nghiệp nắm bắt và vượt qua các rào cản kỹ thuật trong thương mại; ban hành các các chính sách, cung cấp các công cụ bảo hộ, phòng vệ thương mại khi thực hiện các giao dịch mua bán công nghệ để việc thâm nhập thị trường, mở rộng thị phần cho sản phẩm, dịch vụ tại các thị trường liên quan được thuận lợi; Thực thi thống kê, kiểm soát giao dịch công nghệ thông qua hải quan; Xây dựng và triển khai cơ sở dữ liệu chuyên gia hỗ trợ hoạt động đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp và phát triển thị trường KH&CN, các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp huy động nguồn tài chính, tín dụng từ thị trường chứng khoán, ngân hàng thương mại để triển khai các dự án thương mại hóa kết quả nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, giải mã công nghệ có quy mô lớn thuộc phạm vi của chương trình.

Thứ năm, về hoàn thiện môi trường pháp lý, đẩy mạnh nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn cho phát triển thị trường KH&CN: Nghiên cứu, xây dựng báo cáo phân tích thị trường KH&CN cho một số ngành hàng xuất khẩu chủ lực; Đề xuất các cơ chế, chính sách liên thông thị trường KH&CN với các thị trường hàng hóa, thị trường tài chính, thị trường lao động; Nghiên cứu, thiết kế các công cụ phân tích, xử lý dữ liệu giao dịch công nghệ; nghiên cứu, thiết kế phần mềm, công cụ quản trị và kết nối cơ sở dữ liệu dùng chung nhằm hỗ trợ các bên cung cầu và tổ chức trung gian của thị trường KH&CN.

Thứ sáu, về phát triển hạ tầng quốc gia cho thị trường KH&CN: Hình thành và vận hành 3 sàn giao dịch công nghệ quốc gia tại 3 miền của đất nước; kết nối với các sàn giao dịch công nghệ của các địa phương và các sàn giao dịch công nghệ trong khu vực và thế giới.

Khuyến khích các tổ chức trung gian thực hiện các dịch vụ tư vấn, môi giới về thị trường KH&CN; Đầu tư xây dựng Cơ sở dữ liệu dùng chung và cổng thông tin về thị trường KH&CN; Đầu tư phát triển và ứng dụng các công cụ phân tích, thống kê, xử lý dữ liệu giao dịch công nghệ, quản trị và kết nối cơ sở dữ liệu dùng chung, số hoá và tích hợp dữ liệu; Thiết lập mạng lưới kết nối và đầu tư xây dựng cơ sở dữ liệu nhân tài người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài tham gia hoạt động đổi mới sáng tạo và phát triển thị trường KH&CN Việt Nam.

Thứ bảy, về thúc đẩy các hoạt động hợp tác quốc tế, trong đó tập trung vào thúc đẩy chuyển giao, làm chủ và phát triển công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam trong các ngành, lĩnh vực ưu tiên. Đồng thời, xây dựng các chính sách để khuyến khích việc chuyển giao công nghệ từ các doanh nghiệp FDI sang các doanh nghiệp phụ trợ trong nước.

Ngoài các giải pháp trên, chúng ta còn cần quan tâm đến thị trường KH&CN cho các kết quả nghiên cứu cơ bản và khoa học xã hội do bản chất công ích của các kết quả nghiên cứu trong những lĩnh vực này. Việc giao dịch trên thị trường các kết quả này sẽ khó tìm được người mua theo quy luật kinh tế thị trường, do đó, Nhà nước cần có những chính sách riêng để khuyến khích các dạng nghiên cứu này.

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Chiến lược phát triển KT-XH giai đoạn 2021-2030 đã khẳng định vai trò của việc phát triển thị trường KH&CN. Bộ KH&CN tin tưởng rằng, với những chủ trương của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là sự quan tâm, chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, sự đoàn kết thống nhất, sự chung sức đồng lòng, sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, và với cú hích quan trọng từ sự kiện ngày hôm nay, thị trường KH&CN Việt Nam chắc chắn sẽ có sự phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới, để KHCN & đổi mới sáng thực sự là động lực quan trọng của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.